Home / Ngữ văn / Ngữ văn lớp 12 / Nghị luận xã hội về sức mạnh riêng của văn chương – Văn mẫu lớp 12

Nghị luận xã hội về sức mạnh riêng của văn chương – Văn mẫu lớp 12

Nghị luận xã hội về sức mạnh riêng của văn chương – Bài số 1

Tác phẩm văn học muốn trường tồn đều phải mang trong mình một sức hấp dẫn riêng và cho đến nay, nhân loại đã có một kho tàng văn học khổng lồ. Đọc một tác phẩm văn học điều mà chúng ta quan tâm hơn cả là sau những câu chữ, những cách thể hiện hấp dẫn, nhà văn đem đến cho độc giả điều gì?

Nếu tài năng của họa sĩ đưực đánh giá bằng đường nét, màu sắc của bức vẽ, tài năng nhà văn được đánh giá dựa trên những vấn đề mà anh ta đề cập trong tác phẩm. Nói như vậy để khẳng định rằng văn học nghệ thuật nhất định phải liên hệ với , nhất định phải mang sức mạnh có được từ thiên chức của mình. Bản thân văn học cũng là một loại hình nghệ thuật mang tính đặc thù có tác động lớn đến . Có thể nói, nhà văn là “người thư kí trung thành của thời đại". Tuy nhiên, xin đừng hiểu một cách cực đoan, văn học chỉ chép lại những gì xảy ra trong . Ngược lại, văn học chỉ là sản phẩm đầy sáng tạo được nhào nặn từ chất liệu . Những sản phẩm ấy không bao giờ chấp nhận sự bình thường bởi: "bình thường là cái chết của nghệ thuật” (Huy-gô). Và như vậy, một tác phẩm hay ra đời là một lần nữa sức mạnh văn học được khẳng định, mộl lần nữa nhà văn lại tìm đến cái thiên chức diệu kì của văn học đối với .

Có ý kiến cho rằng: sức mạnh của văn học dựa trên những chức năng của nó. Vậy nên chăng, khi đề cập đến vấn đề này, chúng ta cũng tách bạch, phân định theo từng chức năng ấy.

Thực ra, việc phân định như vậy chỉ mang tính lí thuyết. Trong thực tế, văn học tác động tới người đọc bằng cả một quá trình tổng hợp, kết chuyển nhiều yếu tố chức năng, và đương nhiên, sự tác động ấy cũng mang tính toàn diện. Phải thừa nhận rằng trong tri thức văn học là cả một “cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống”. Nó đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người về thế giới xung quanh. Và đó cũng chính là một yếu tố cơ bản cấu thành sức mạnh riêng của văn học nghệ thuật. Con người không phải lúc nào cũng đủ điều kiện để tìm hiểu cuộc sống mới lạ ở những vùng đất xa xôi. Với văn học, chúng ta còn có thể trở về Côn Sơn – Kiếp Bạc qua những vần thơ Nguyên Trãi, vẫn có thể thấy Thăng Long của hàng trăm năm trước trong nỗi buồn Bà huyện Thanh Quan. Thậm chí, chúng ta còn có thể tới những vùng đất Hy Lạp xa xôi để chứng kiến cuộc thám hiểm của chàng Uy-li-xơ thông minh gan dạ… Không phải đương nhiên chúng ta hiểu điều đó, mà trong quá trình sáng tạo, tác giả – cho dù là một cá nhân hay một cộng đồng… đã đưa vào tác phẩm một lượng thông tin phong phú, giúp người đọc nắm bắt cuộc sống. Secnusepxky từng nói: “Những kết luận khoa học như những thỏi vàng chỉ lưu hành trong một phạm vi nhỏ hẹp, còn tri thức từ các tác phẩm văn học như những đồng tiền nhỏ dễ dàng lưu thông, len lỏi đến với mọi người”. Đó chính là tri thức của cuộc sống mà nếu đến với nó bằng một tình yêu, một sự khao khát hiểu biết, thì chúng ta sẽ dỗ dàng nắm bắt được. Không phải ai cũng một lần trong đời được đặt chân lên xứ Lạng Sơn song người ta có thể biết xứ Lạng qua câu ca dao giản dị:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh.

Văn học mở ra những chân trời hiểu biết mới, những tầm nhận thức mới thúc đẩy quá trình phát triển của con người. Bởi lẽ mỗi chính thể văn học là một tấm gương cho độc giả soi mình vào để tự hoàn thiện bản thân, đồng thời đó cũng chính là kho tàng kinh nghiệm sống có tác dụng trực tiếp đến quá trình giao tiếp của con người. Một nhà lí luận đã rất đúng khi cho “nghệ thuật là một phương thức tồn tại của con người. Nó giúp cho con người mãi mãi là con người không sa xuống thành con vật, cũng không biến thành những ông thánh vô duyên vô bổ…”

Như vậy, văn học nghệ thuật tác động trực tiếp đến con người. Hay nói cách khác, nó nâng cao khả năng nhận thức của độc giả về những vấn đề trong cuộc sống. Chúng ta đều biết đến hùng dũng đi bắt nữ thần Mặt Trời và cho dù có thất bại đi chăng nữa thì khát vọng chinh phục thiên nhiên của chàng là sự vươn lên của ý thức con người trong cuộc sống. Chúng ta cũng đã đọc câu thơ của Tố Hữu:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Dù ở khía cạnh nào, thời đại nào đi nữa thì những câu thơ ấy vẫn là tiếng nói của nhận thức mà mỗi độc giả đều có được. Chúng ta nói văn học tác động đến người đọc một cách toàn diện, nghĩa là cả mặt lí trí và tình cảm. Đó là điều đương nhiên. Bởi lẽ mỗi tác phẩm văn học được viết ra, ngoài những nội dung thông tin nhằm mở rộng hiểu biết và nâng cao nhận thức, còn chất chứa tấm lòng con người sáng tác. Phải thực sự có cái tình ấy, thì tác phẩm mới đi sâu vào lòng người đọc. Nói xa một chút như vậy để thấy rằng văn học luôn gợi tình chính nó cũng là sợi dây liên cảm đánh thức dậy trong lòng người đọc những cảm xúc trong trẻo, mãnh liệt. Ai có thể đọc mà không cảm phục một Ham-Iet, yêu một Giăng van-giăng (Những người khốn khổ) hay không nghiêng mình trước mối tình Rô-mê-ô và Giu-li-ét bi thương từng lung lạc cả địa đàng. Văn học đủ sức làm rung lên cả những con tim tưởng như đã chai cứng, những tâm hồn ngỡ như cằn cỗi, già nua. Trước cuộc sống thực tại, ta có thể bình thản, nhưng trước những cuộc đời trong tác phẩm mấy ai có thể cầm lòng. Nói như vậy không có nghĩa là tác phẩm văn học đã hư cấu một cách quá đà những gì thuộc về cuộc sống mà ngược lại, những tác phẩm ấy đã dùng thứ ngôn ngữ hoàn chỉnh, lạ lùng để cô đọng lại những ý nghĩ, những cảm xúc, những giọt máu và những giọt lệ đắng cay, nóng bỏng của thế gian này (M.Gorki). Giữa người đọc và người sáng tác, sợi dây nối liền chính là tác phẩm. Mối quan hệ này tưởng như đơn giản song lại thật quan trọng. Người đọc chỉ có thể hiểu được tâm trạng tác giả hay cảm thông chia sẻ với những khi tác phẩm đó mang đầy đủ giá trị nội dung, nghệ thuật, quan trọng hơn “là kết tinh một lần vào vĩnh viễn" giá trị nhân đạo. Xét cho cùng, dù nói cách này hay cách khác, chúng ta đều thừa nhận, văn học tìm đến chiều sâu của thế giới tâm linh con người để khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương trước cái đẹp. Căm ghét, khinh bỉ những cái xấu xa. Văn học đã phá vỡ những giới hạn của không gian và thời gian. Ví dụ như các nhân vật tiêu biểu: xa như Ham-lét, Đăm Săn, gần như Lão Hạc, Chí Phèo. Tất cả đều đã thành “người thiên cổ" thế nhưng, trong chúng ta họ vẫn định hình với những tình cảm yêu, ghét, thương hại, xót xa… Đó là điều mà các tác phẩm văn học đã làm được và cũng chỉ là duy nhất có văn học mà thôi. Đọc một tác phẩm là đọc một cuộc đời, những tâm trạng, là tự soi mình vào để cuộc sống đẹp hơn. Văn học trong quá trình vận động theo quy luật từ cuộc sống đến nghệ thuật, rồi trở lại về cuộc sống đã góp phần tích cực vào việc thanh lọc con người. Giúp con người hướng tới “chân, thiện, mĩ”.  Từ nhừng cái bình dị nhất của thực tiễn, người sáng tác đã đưa vào tác phẩm khiến nó thành những chuẩn mực về cuộc sống, về đạo đức con người. Chúng ta biết, trong mỗi tác phẩm văn học không chỉ có những vẻ đẹp mà còn cả những điều xấu xa để loại trừ. Làm được điều đó, văn học không thể không bắt nguồn từ cuộc sống và cái đẹp ấy cũng không thể gắn liền với đời sống thực của con người. Trong Ramayana cơn ghen dữ dội của Rama với một tâm trạng đầy mâu thuẫn, và cả những lời thanh minh khôn khéo, cứng rắn của Xi-ta đều là những diễn biến tâm lí điển hình. Thế nhưng điều cốt yếu là đằng sau đó, người đọc tự tìm cho mình lối lí giải hay những kinh nghiệm quý báu, thiết thực. “Truyện Kiều" có những nỗi đau, những khổ ải và cả những niềm hạnh phúc khiến người đọc phải suy nghĩ… Con người là một thực thể khó hiểu, không xấu hoàn toàn, cũng không tốt hoàn toàn. Chỉ có điều trong con người tốt, những nhược điểm được hạn chế đi rất nhiều. Tuy vậy, một người tốt chưa hẳn đã giữ mãi được cái tốt của mình. Cũng đừng thấy một kẻ xấu mà rẻ rúng. Nguyễn Trãi từng viết:

Ngoài chưng mọi thứ đều thông hết

Rui một lòng người cực hiểm thay

Như vậy, trong quá trình thanh lọc, văn học đã tác động vào con người bằng cả việc nói đến cái thiện, cái ác. Có điều phải tìm tòi, khơi dậy cái lương thiện của con người, loại bỏ những cái xấu xa, độc ác. Nói tổng quát, thì văn học đưa xã hội đi lên theo chiều hướng tích cực. Ta thấy những chàng Rama chiến đấu với quỷ dữ, những binh sĩ đời Lý đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt và ngày nay là những Thạch Sanh của thế kỷ XX. Tất cả đều chiến đấu vì cuộc sống hòa bình của dân tộc mình, cộng đồng mình. Những câu thơ của Lý Thường Kiệt, của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Ncuvễn Đình Thi… đã mang sức mạnh của toàn dân tộc. Những vần thơ ấy đã làm tăng thêm sức mạnh của con người. Ôm đất nước những người áo vải. Đã đứng lên thành những anh hùng . Đọc hai câu thơ trên dường như cả lòng ta cũng đang cuộn trào dòng nhiệt huyết hào hùng. Trong những cuộc đấu tranh của con người , văn học luôn sát cánh bên họ, ca ngợi lẽ phải, niềm tin vào lòng dũng cảm. Rõ ràng, văn học đã tham gia vào quá trình cải tạo xã hội mà cụ thể là cải tạo con người. Cho đến ngày hôm nay, vai trò ấy càng khẳng định rõ nét hơn, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống bình yên của nhân loại.

Xem thêm:  Giải Toán lớp 6 bài Ôn tập chương 2

Với tư cách là một loại hình sáng tác nghệ thuật, văn học đã tồn tại trong quá trình phát triển của con người và khẳng định vai trò to lớn của nó đối với cuộc sống. Đặt bên cạnh các môn nghệ thuật khác, văn học luôn chiếm ưu thế với tính đặc thù. Văn học mang tính chính xác của các môn khoa học tự nhiên, mang những quan niệm của đạo đức học. Có điều trong quá trình sáng tác, nghệ sĩ đã kết tinh những đặc điểm ấy để tạo nên được một nét riêng độc đáo cho văn học. Thế giới của tác phẩm là thế giới của hình tượng rất đa dạng và mang tính sinh động cao. Chính vì vậy, mỗi tác phẩm là một bộ phim quay chậm chứ không còn là bức tranh, bức tượng bất động.

Người sáng tác, nói một cách hình ảnh chính là người “điều binh khiển tướng”. Sử dụng ngôn ngữ chính xác, giàu hình ảnh và xây dựng những hình tượng hấp dẫn thì đương nhiên tác phẩm sẽ đưa được người đọc vào “mê hồn trận ”, đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, từ lí thú này đến lí thú khác. Với văn học, ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện loại hình, là cách thể hiện. Và như vậy, một tác phẩm hay cũng phải là tác phẩm đạt tới trình độ tiêu biểu về ngôn ngữ.

Nói như vậy để cuối cùng đi đến khẳng định: văn học luôn có sự tác động đến cuộc sống con người. Sự tác động ấy dù dưới nhiều hình thức, song đều tập trung hoàn thiện con người, cải tạo xã hội. Bất kì ở thời đại nào văn học cũng luôn mang sức mạnh nội tâm được đúc kết từ cuộc sống. Sức mạnh ấy có thể làm xoay chuyển thế giới tinh thần của nhân loại giúp cho con người tìm đến cuộc sống , nhân ái. Qua hàng ngàn năm, hàng ngàn thế hệ, ngày nay chúng ta được kết tiếp những tác phẩm nổi danh kim cổ để thêm một lần chiêm nghiệm về giá trị lớn lao của văn học. Những tác phẩm ấy tồn tại cùng thời gian, tiếp tục hoàn thiện chức năng thiêng liêng của mình đôi với đời sống con người.

Nghị luận xã hội về sức mạnh riêng của văn chương – Bài số 2

Tác phẩm văn học muốn trường tồn đều phải mang trong mình một sức hấp dẫn riêng: và cho đến nay, nhân loại đã có một kho tàng văn học khổng lồ. Đọc một tác phẩm văn học điều mà chúng tôi quan tâm hơn cả là sau những câu chữ, những cách thể hiện hấp dẫn, nhà văn đem đến cho độc giả điều gì? Nếu tài năng của họa sĩ được đánh giá bằng đường nét, màu sắc của bức vẽ, tài nàng nhà văn được đánh giá dựa trên những vấn đề cuộc sống mà anh ta đề cập qua tác phẩm. Nói như vậy để khẳng định rằng văn học nghệ thuật nhất định phải liên hệ với cuộc sống, nhất định phải mang sức mạnh có được từ thiên chức của mình. Bản thân văn học cũng là một loại hình nghệ thuật mang tính đặc thù cố tác động lớn đến cuộc sống. Có thể nói, nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại. Tuy nhiên, xin đìmg hiểu một cách cực đoan, văn học chi ghi chép lại những gì xảy ra trong cuộc sống. Ngược lại, văn học chỉ là sản phẩm đầy sáng tạo được nhào nặn tù chất liệu cuộc sống. Những sản phẩm ấy không bao giờ chấp nhận sự bình thưởng; bởi bình thường là cái chết của nghệ thuật (Huy-gô). Và như vậy, một tác phẩm hay ra đời là một lần nữa sức mạnh văn học được khẳng định, một lần nữa nhà văn lại tìm đến cái thiên chức diệu kì của văn học đối với cuộc sống con người.

Có ý kiến cho rằng: sức mạnh của văn học dựa trên những chức nảng của nó. Vậy nên chăng, khi đề cập đến vấn đề này, chúng ta cũng tách bạch, phân định theo từng chức năng ấy.

Thực ra, việc phân định như vậy chỉ mang tính lí thuyết. Trong thực tế, văn học tác động tới người bằng cả một quá trinh tổng hợp, kết chuyển nhiều yếu tố chức năng, và đương nhiên, sự tác động ấy cũng mang tính toàn diện. Phải thừa nhận rằng trong tri thức văn học là cả một cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống. Nó đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người về thế giới xung quanh. Và đó cũng chính là một yếu tế cơn bản cấu thành sức mạnh riêng của văn học nghệ thuật. Con người không phải lúc nào cũng đủ điều kiện để tìm hiểu cuộc sống mới lạ ở những vùng đất xa xôi. Với văn học, chúng ta vẫn còn có thể trở về Côn Sơn – Kiếp Bạc qua những vần thơ Nguyễn Trãi, vẫn có thể thấy Thăng Long của hàng trăm năm trước trong nỗi buồn Bà huyện Thanh Quan. Thậm chí, chúng ta còn có thể tới cả những vùng đất Hy Lạp xa xôi đề chứng kiến cuộc thám hiểm của chàng Uy Li Xơ thông minh gan dạ… Không phải đương nhiên chúng ta hiểu điều đó, mà trong quá trình sáng tạo, tác giả – cho dù là một cá nhân hay một cộng đồng… đã đưa vào tác phẩm một lượng thông tin phong phú, giúp người đọc nắm bắt cuộc sống. Tsecnusepxky từng nói: Những kết luận khoa học như những thỏi vàng chỉ lưu hành trong một phạm vi nhỏ hẹp, còn tri thức từ các tác phẩm văn học như những đồng tiền nhỏ dể dàng lưu thông, len lỏi đến với mọi người. Đó chính là tri thức của cuộc sống mà nếu đến với nó bằng một tình yêu, một sự khao khát hiểu biết, thi chúng ta sẽ dễ dàng nắm bắt được. Không phải ai cũng một lần trong đời được đặt chân lên xứ Lạng, song người ta có thể biết xứ Lạng qua câu ca dao giản dị:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa 

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Văn học mở ra những chân trời hiểu biết mới, những tầm nhận thức mới, thúc đẩy quá trình phát triển của con người. Bởi lẽ, mỗi chỉnh thể văn học là một tấm gương cho độc giả soi mình vào đó để tự hoàn thiện bản thân, dồng thời đó cũng chính là kho tàng kinh nghiệm sống có tác dụng trực tiếp đến quá trình giao tiếp của con người. Một nhà lí luận đã rất đúng khi cho nghệ thuật là một phương thức tồn tại của con người. Nó giúp cho con người mãi mãi là con người không sa xuống thành con vật, củng không biến thành những ông thánh vô duyên vô bổ…

Như vậy, rõ ràng văn học nghệ thuật tác dộng trực tiếp đến ý con người. Hay nói cách khác, nó nâng cao khả nâng nhận thức của độc giả về những vấn đề trong cuộc sống. Chúng ta đều biết đến Đam San hùng dũng đi bắt nữ thần Mặt Trời và cho dù cố thất bại đi chăng nữa thì khát vọng chỉnh phục thiên nhiên của chàng là sự vươn lên của ý thức con người trong cuộc sống. Chúng ta cũng đã đọc câu thơ của Tố Hữu:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Dù ở khía cạnh nào, thời đại nào đi nữa thì những câu thơ ấy vẫn là tiếng nói của nhận thức mà mỗi độc giả đều có cảm nhận được. Chúng ta nói văn học tác động đến người đọc một cách toàn diện, nghĩa là cả về mặt lí trí và tình cảm. Đó là điều đương nhiên. Bởi lẽ mỗi tác phẩm văn học được viết ra, ngoài những nộỉ dung thông tin nhằm mở rộng hiểu biết và nâng cao nhận thức, còn chát chứa tám lòng của người sáng tác. Phải thực sự có cái tình ấy, thì tác phẩm mới có thể đi sâu gợi tình và chính nó cũng là sợi dây liên cảm đánh thức dậy trong lòng người đọc những cảm xúc trong trẻo, mãnh liệt. Ai có thể đọc mà không cảm phục một Hamlét, yêu mến một Giang Van Giăng (Những người khốn khổ), hay không nghiêng mình trước môi tình Rômêô và Juliet bi thương từng lùng lạc cả địa đàng, văn học đủ sức làm rung lên cả những con tim tưởng như đã chai cứng, những tầm hồn ngỡ như cằn cỗi, già nua. Trước cuộc sống thực tại, ta có thể bình thản, nhưng trước những cuộc đời trong tác phẩm mấy ai có thể cầm lòng. Nói như vậy không có nghĩa là tác phẩm văn học đã hư cấu một cách quá đà những gì thuộc về cuộc sống mà ngược lại, những tác phẩm ấy đã dùng thứ ngôn ngữ hoàn chỉnh, lạ lùng để cô đọng lại những ý nghĩ, những cảm xúc, những giọt máu và những giọt lệ đắng cay, nóng bóng của thế gian này (M.Gorki). Giữa người đọc và người sáng tác, sợi dây nối liền chính là tác phẩm. Mối quan hệ này tưởng như đơn giản song lại thật quan trọng. Người đọc chỉ có thể hiểu được tâm trạng tác giả hay cảm- thông chia sẻ với những số phận con người khi tác phẩm đó mang đầy đủ giá trị nội dung, nghệ thuật và quan trọng hơn là kết tinh một lần vào vĩnh viễn giá trị nhân đạo. Xét cho cùng, dù nói cách này hay cách khác, chúng ta đều thừa nhận, văn học tìm đến chiều sâu của thế giới tâm linh con người để khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương trước cái đẹp. Căm ghét, khinh bỉ những cái xấu xa. Văn học đã phá vỡ những giới hạn của không gian và thời gian. Ví như các nhân vật tiêu biểu: xa như Hamlét, Đam San, gần như Lão Hạc, Chí Phèo. Tất cả đều đã là người thiên cổ thế nhưng, trong chúng ta họ vẫn định hình với những tình cảm yêu, ghét, thương hại, xót xa… Đó chính là điều mà các tác phẩm văn học đã làm đươc và cũng chỉ là duy nhất có văn học mà thôi. Đọc một tác phẩm là đọc những cuộc đời, những tâm trạng, là tự soi mình vào để sống sao cho đẹp hơn. Văn học trong quá trình vận động theo quy luật từ cuộc sống đến nghệ thuật, rồi lại trở về cuộc sống đã góp phần tích cực vào việc thanh lọc con người. Giúp con người hướng tới chân, thiện, mĩ. Từ những cái bình dị nhất của thực tiễn, người sáng tác đã đưa vào tác phẩm khiến nó trở thành những chuẩn mực về cách sống, về đạo đức con người. Chúng ta biết, trong mỗi tác phẩm văn học không chỉ có những vẻ đẹp mà còn cả những điều xâu xa để loại trừ. Làm được điều đó, văn học không thể không bắt nguồn từ cuộc sống và cái đẹp ấy cũng không thể gắn liền với đời sống thực của con người. Trong RAMAYANA cơn ghen dữ dội của RAMA với một tâm trạng đầy mâu thuẫn, và cả những lời thanh minh khôn khéo, cứng rắn của Xi-ta đều là những diễn biến tậm lí điển hình. Thế nhưng điều cốt yếu là đằng sau đó, người đọc tự tìm cho mình lối lí giải hay những kinh nghiệm quí báu, thiết thực. Truyện Kiều có những nỗi đau, những khổ ải và cả những niềm hạnh phúc khiến người đọc phải suy nghĩ… Con người là một thực thể khó hiểu, không xấu hoàn toàn, cũng không tốt hoàn toàn. Chỉ có điều trong con người tốt, những nhược điểm được hạn chê đi rất nhiều. Tuy vậy, một người tốt chưa hẳn sẽ giữ mãi được cái tốt cùa mình. Cũng đừng thấy một kẻ xấu mà rẻ rúng. Nguyễn Trãi từng viết:

Xem thêm:  Giải Sinh lớp 6 Bài 21: Quang hợp (tiếp theo)

Ngoài chưng mọi chốn đều thong hết 

Bụi một lòng người cực hiểm thay

Như vậy, trong quá trình thanh lọc, văn học đã tác động vào con người bằng cả việc nói đến cái thiện, cái ác. Có điều phải tìm tòi, khơi dậy cái lương thiện của con người, loại bỏ những cái xấu xa, độc ác. Nói tổng quát, thì văn học đưa xã hội đi lên theo chiều hướng tích cực. Ta thấy những chàng Rama chiến đấu với quỉ dữ, những binh sĩ đời Lý đánh tan quân Tống trên sống Như Nguyệt và ngày nay là những Thạch Sanh của thế kỉ XX. Tất cả đều chiến đấu vì cuộc sống hoà bình cùa dân tộc mình, cộng đồng mình. Những câu thơ của Lý Thường Kiệt, của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi… đã mang sức mạnh cửa toàn dân tộc. Nhưng vần thơ ấy đã làm tăng thêm sức mạnh cho con người.

Ôm dắt nước những người áo vải 

Đã đứng lên thành những anh hùng

Đọc hai câu thơ trên dường như cả lòng ta cũng đang cuộn trào dòng nhiệt huyết hào hùng. Trong những cuộc đấu tranh của con người, văn học luôn sát cánh bên họ, ca ngợi lẽ phải, niềm tin và lòng dũng cảm. Rỗ ràng, văn học đã tham gia vào quá trình cải tạo xã hội mà cụ thể là cải tạo con người. Cho đến ngày hôm nay, vai trò ấy càng khẳng định rỗ nét hơn, dộc biột là trong cuộc đấu tranh vỉ cuộc sống bình yên của nhân loại.

Với tư cách là một loại hình sáng tác nghệ thuật, văn học đẫ tổn tại trong quá trình phát triển của con người và khẳng định vai trò to lớn của nó đới với cuộc sống. Đặt bên cạnh các l)ộ môn nghệ thuật khác, văn học luôn chiếm ưu thế với tính đặc thù. Văn học mang tính chính xác của các bộ môn khoa học tự nhiên, mang nhữùg quan niệm của đạo đức học. Cố điều trong quá trinh sáng tác, nghệ sĩ đã kết tỉnh những đặc điểm ấy để tạo nên được một nét riêng độc đắo cho văn học. Thế giới của các tác phẩm là thế giới của hình tượng rất đa dạng và mang tính sinh động cao. Chính vì vậy, mỗi tác phẩm là một bộ phim quay chậm chứ không còn là bức tranh, bức tượng bất động.

Người sáng tác, nói một cách hình ảnh chính là người điều binh khiển tướng. Sử dụng ngôn ngữ chính xác, giàu hình ảnh và xây dựng những hình tượng hấp dẫn thì đương nhiên tác phẩm sẽ đưa được người đọc vào mê hồn trận, đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác, từ lí thú này đến lí thú khác. Với văn học, ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện loại hình, là cách thể hiện. Và như vậy, một tác phẩm hay cũng phải là tác phẩm đạt đến trình độ tiêu biểu về ngôn ngữ, Chín nội dung và cô đọng trong cảm xúc nghệ sĩ.

Nói như vậy, để cuối cùng đi đến khẳng định: Văn học luôn có sự tác động đến cuộc sống con người. Sự tác động ấy dù dưới nhiều hình thức, song đều tập trung hoàn thiện con người, cải tạo xã hội. Bất kì ở thời đại nào văn học cùng luôn mang sức mạnh nội tâm được đúc kết từ cuộc sống. Sức mạnh ấy có thể làm xoay chuyển thế giới tinh thần của nhân loại giúp cho con người tìm đến cuộc sống văn minh, nhân ái. Qua hàng ngàn năm, hàng ngàn thế hệ, ngày nay chúng ta được kết tiếp với những tác phẩm nổi danh kim cổ để thêm một lần chiêm nghiệm về giá trị lớn lao của văn học. Những tác phẩm ấy tồn tại cùng thời gian, tiếp tục hoàn thiện chức năng thiêng liêng của minh đối với đời sống con người.

Nghị luận xã hội về sức mạnh riêng của văn chương – Bài số 3

Có lẽ Thạch Lam đã suy nghĩ đúng khi ông khẳng định “…Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên”. Thoái li, đây là một cách xa rời cuộc sống, làm tươi mát cho cuộc sống để con người hiểu được hơn về cuộc sống mình đang sống và từ đó cố gắng làm cho cuộc sống tốt hơn lên. Đối với con người thì có rất nhiều cách yêu cuộc sống, ở người này yêu bằng một cách, ở người kia lại yêu băng cách khác.

Thạch Lam không muốn người đọc có thể tìm thấy một chút nào sự chán chường muốn xã rời hiện thực, quên cuộc sống trong tác phẩm văn chương của ông. Không dẫm vào con đường của các nhà văn lãng mạn (dù Thạch Lam cũng là nhà văn lãng mạn, hơn nữa lại là một trong những người chủ chốt của nhóm Tự Lực Văn Đoàn) theo con đường tìm đến cõi quên, mà Thạch Lam lại muốn hướng dòng văn của mình chảy về hướng ngược lại, hướng trở về cuộc đời thực. Quan niệm của ông là như thế và chính các tác phẩm của ông cũng chứng tỏ rất rõ điều đó trong một số tác phẩm của mình, những tác phẩm gần gũi với hiện thực chiếm hầu như đa số. Văn chương Thạch Lam không nói những gì cao xa mà đều là những mảnh đời thường dung dị và rất thân quen.

Nhưng nếu văn chương không “đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên” thì văn chương phải là như thế nào ? Đó cũng chính là vấn đề trọng tâm mà Thạch Lam nêu lên. “ Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Quan niệm này rất đúng, văn chương cần thế và phải thế. Đó chính là sức mạnh của văn chương nếu nhà văn nào biết tận dụng triệt để. “Thứ khí giới thanh cao và đắc lực” ở đây không phải để chỉ các súng ống, gậy gộc mà chúng ta thường gọi là vũ khí, mà chính là sức mạnh cùa ngòi bút nhà văn, sức sống phá mãnh liệt của văn chương. Từ xưa, văn chương luôn tiềm ẩn một sức mạnh lo lớn mà nếu ai biết “điểm trúng huyệt”. Có thể làm lung lay những thành trì vững chãi nhất. Nhưng ở đây, những “khí giới thanh cao và đắc lực”, có nghĩa văn chương là một thứ vũ khí cao thượng và rất trong sạch, không phải là thứ vũ khí tầm thường có thể sử dụng vào bất cứ mục đích nào, dù mục đích ấy có xâu xa đến đâu cũng mang lại kết quả. Không, không thể thế.  Ê-luya đã từng nói “Nhà văn là người có ích nhất trong cộng đồng của mình”. Do đó không thể đem văn chương làm một thứ vũ khí phi nghệ thuật. Nhà văn phải dùng văn chương “thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để “tố cáo và thay đổi một thế giới dối trá và tàn ác”. Đó chính là mục đích chân chính của văn chương. Vãn chương đem đến cho con người lòng yêu cuộc sống, gần gũi với cuộc sống. Nhưng văn chương cũng có nhiệm vụ tố cáo, cải tạo cuộc sống, xã hội cũ đề loại bỏ cái xấu xa, tàn ác mà trở về với cái tốt đẹp. Văn chương không đem đến cho người đọc sự thoát li, sự quên lãng, tức là văn chương khuyên con người hãy trở về thực tại. Văn chương cũng phải biết dùng sức mạnh của thứ vũ khí thanh cao của mình để giúp con người được sống trong một xã hội tốt đẹp. Hai nhiệm vụ ấy tưởng như không quan hệ với nhau mà thực ra liên quan rất chặt chẽ. Đã thực hiện nghĩa vụ này thì nghĩa vụ kia văn chương cũng không thể từ bỏ. Có rất nhiều tác phẩm của các nhà văn đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ "tố cáo và thay đổi cái thế giới gian dối và tàn ác” ấy. Trong Những người khốn khổ. Vichto Huygô cũng không ngần ngại khi sử dụng hết sức mạnh “như bom đạn" của ngòi bút để tố cáo thật quyết liệt cái xã hội Pháp “giả dối và tàn ác”, cái xã hội đã đày đoạ những con người tốt đẹp như Giăng Van – giăng, Côdét vào sự đau khổ, sự khốn cùng. Lép Tônxtôi, qua Anna Karerina, cũng lên án mạnh mẽ xã hội Nga Hoàng đã cướp đoạt hạnh phúc và đẩy những người phụ nữ đáng thương, khát khao hạnh phúc như Anna vào cái chết không thể cứu vãn được.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về sự tự tin - Văn mẫu lớp 12

Qua vũ khí “thanh cao và đắc lực” của mình,văn chương không chỉ tố cáo xã lội, mà qua sự tố cáo, văn chương còn hướng tới mục đích cao cả là “thay đổi” cái xã hội ấy : nghĩa là văn chương không phải tố cáo cốt để dìm sâu “cái thế giới giả dốì và tàn ác” xuống vũng bùn đen, mà phải tìm cách nâng cái thế giới ấy lên, gạn lại những bản chất của nó để từ đó phát triển lên. Sự thay đổi ấy, văn chương không thể tự đảm nhiệm được, nhưng văn chương cũng đóng góp một phần quan trọng vào quá trình thay đổi những nét giả dối và tàn ác của cái tã hội tàn bạo đầy cá thế lực đen tối. Ta có thể thấy rất rõ rằng các tác phẩm của các nhà văn, trong đó có cả Thạch Lam, ngoài mục đích tố cáo xã hội ra, còn hướng người đọc đến niềm tin “cái thế giới giả dối và tàn ác” trong tương lai sẽ thay đổi, do lược lượng này hoặc lực lượng khác, và sẽ trở nên tốt đẹp. Nhưng những điều này, ta sẽ không tìm thấy được ở các tác phẩm của các nhà văn lãng mạn như Khải Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, bởi vì các quan niệm văn chương của những nhà tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn ấy khác với quan niệm của Thạch Lam, một nhà văn đã khá gần với các nhà văn hiện thực đương thời.

Văn chương không chỉ cốt dùng vũ khí của mình để thay đổi và tố cáo xã hội, mà văn chương còn phải “làm cho lòng người đọc được thêm trong sạch và phong phú hớn”. Quan niệm này hoàn toàn đúng . Đây chính là cái cao cả nhất mà văn chương chân chính muốn vươn tới và cũng chính là một trong các chức năng của văn học: chức năng giáo dục .Bản thân con người luôn luôn vươn tới sự toàn vẹn của chân, thiện, mĩ. Quá trình vươn lên này của con người có nhiều yếu tố khác giúp sức, trong đó một yếu tố khá quan trọng là văn chương, văn chương làm “lòng người được thêm trong sạch và phong phú", có nghĩa là văn chương đã giúp cho những tình cảm trong tâm hồn con người trở nên trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn, cao thượng hơn và dồi dào hơn. Đối tượng phục vụ của văn chướng chính là con người, do đó những tác phẩm có giá trị nhất là những tác phẩm phục vụ đắc lực cho con người, giúp cho con người “người” hơn.

Lênin đã từng nói: “Không có tình cảm thì sẽ không bao giờ và không thể có sự tìm tòi của con người và chân lý”. Chính văn chương đã làm giàu thêm tình cảm con người. Văn chương cũng giáo dục con người tìm những cái tốt đẹp những phẩm chât trong sáng, từ đó giúp con người nhận thức được chính bản thân và cố gắng hoàn thiện mình.

Từ xưa đến nay, văn chương luôn tìm cách giáo dục con người. Ngô Thì Nhậm đã từng nói đại ý: văn phải ngăn ngừa điều xấu, khuyến khích điều hay, đó mới chính là giá trị xác thực của văn chương. Nhà văn Nam Cao cũng đã lừng nói ý này : Một tác phẩm hay phải là một tác phẩm mang tính công bình, lòng bác ái giúp cho người gần người hơn. Đó là những quan niệm rất đúng đắn. Nó góp phần khẳng định tính chất xác đáng trong quan niệm của Thạch Lam.

Những nội dung mà các tác phẩm văn chương giá trị đều giúp cho con người có ý thức nhìn nhận lại mình, phát hiện những mặt tốt, từ đó cố gắng sửa chữ những mặt xấu, phát huy mặt tốt để làm cho mình trở thành con người toàn diện. Trong truyện “Sợi tóc”, Thạch Lam miêu tả một cuộc đấu tranh nội tâm rất gay gắt cùa nhân vật chính khi đứng trước ranh giới của vùng sáng lương thiện và bóng tối tội lỗi của sự ăn cắp. Cuối cùng, nhân vật đã bản chất xấu xa, thấp hèn của mình để bước hẳn ra vùng sáng lương thiện. Rõ ràng người đọc sẽ tự suy ngẫm còn những người còn những suy ngẫm lường gạt, lừa dối sẽ thấy lĩnh ngộ trong lương tâm, từ đó sẽ hướng lới những điều trong sáng hơn.

Hoặc trong những tác phẩm đầy chất thơ của Thạch Lam Gió đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan. Đứa con đầu lòng, người đọc sẽ cảm nhận ở nơi đó nhiều tình cảm mới lạ, êm đềm tựa cánh bướm non . Tâm hồn của mọi người sẽ trở nên dạt dào,tràn trề cảm xúc. Họ càng thấy yêu hơn cặp trai gái trong truyện, mến hơn đôi vợ chồng trẻ và . Từ những tình cảm ấy, họ sẽ cảm thấy gần gũi, cảm thông nhau hơn.

Tóm lại, trong hầu hết các tác phẩm của nhà văn chân chính, trong đó có cả các nhà văn lãng mạn. Vì vậy, các tác phẩm của ông đều nhằm vào mục đích ấy. Đi theo con đường riêng của mình. Thạch Lam có thể tự hào vì ông đã đế lại một số lượng tác phẩm có giá trị, vừa đậm đà những tình cảm tha thiết vừa mang tính hiện thực khá sâu sắc. Với quan niệm ấy, ông không hẳn là một nhà văn lãng mạn nhưng cũng không phải là một nhà văn hiện thực phê phán. Các nhà văn lãng mạn không có những tác phẩm mà trong đó văn chương được sử dụng như là “ một thứ khí giới thanh cao và đắc lực" để “tó cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác" các tác phẩm của họ thường đề cập đến tình yêu, đem sự giải phóng cá nhân, thảng hoặc có một vài nhà văn lãng mạn đi lệch sang một đề tài khác như Lan Khai với tác phẩm “Lẩm than" … Những cái đó cũng chỉ là sự vượt biên chút ít, sau đó rồi cũng quay về với đề tài cũ. Còn các nhà văn hiện thực phê phán thì chỉ dùng tác phẩm của minh để “tố cáo” cái xã hội “ giả dối và tàn ác” là xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời chứ chưa có một hướng nào đó để thay đổi cái xã hội ấy tốt đẹp hơn lên.

Tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán thường có một kết thúc bế tắc, không có lối thoát. Đó chẳng qua do nhận thức chưa đến độ chín, có nghĩa là các nhà văn ấy chưa nhìn thấy rõ ràng tương lai, chưa hướng văn chương vào mục đích tốt đẹp, có hiệu quả nhất.

Nhưng nói thế nào cũng không có nghĩa là chỉ riêng một mình Thạch Lam quan niệm đúng về văn chương và nhìn thấy rõ được tương lai. Quan niệm về văn chương là văn chương phải “thay đổi” cái thế giới, chủ yếu do tính nhân đạo của ông. Ông không muốn nhìn thấy cái xã hội dối lừa, độc ác, bạo tàn. Do vậy ông luôn có ý muốn cho tác phẩm của mình, cho nhân vật của mình thoát ra những cái xấu xa để bươn tới sự tốt. Đây cũng là một suy nghĩ tốt đẹp của Thạch Lam. nhưng đâu phải dễ dàng một sớm một chiều thay đổi, ví như cái xã hội thực dân bạo tàn kia, sau này phải nhờ cách mạng mới có thể lật đổ và thay đổi được.

Dù sao, quan niệm về văn chương của Thạch Lam là một quan niệm rất đúng. Nó khái quát lại một số trong những tác dụng và giá trị đích thực của văn chương. Văn chương ngày nay cũng phải phát huy thật triệt để những chức năng của mình, đồng thời phải góp phần thay đổi xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.  

Nguyễn Tuyến tổng hợp

Check Also

nu sinh dep mo95757972 310x165 - Nghị luận về vai trò của tri thức

Nghị luận về vai trò của tri thức

Nghị luận về vai trò của tri thức Bài làm Trong lá thư gửi con …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *