Thuyết minh về quần thể di tích cố đô Huế – Văn mẫu lớp 12

Thuyết minh về quần thể di tích cố đô Huế – Bài số 1

Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Huế. Là kinh đô cùa Việt Nam dưới triều Nguyễn Huệ nổi tiêng vói những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiên trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên. Nghiêng mình bên dòng sông xanh hiền hòa của miền Trung. Huế là một di sàn văn hoá vật thể và tính thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý, một miền văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới. Năm 1993, Huế đã được UNESSCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Cho đến hôm nay, Huế đã đang, và sẽ mãi mãi được giữ gìn, bảo tồn và phát triển, sánh vai với các kì quan hàng ngàn năm của nhân loại trong danh mục Di sản Văn hoá Thế giới của UNESCO.

Loading...

Quần thế di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế chỉ những di tích lịch sử – văn hoá do triều Nguvễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian  đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế Quần thể di tích Cố đô Huế có thể phân chia thành các cụm công trình gồm: Các di tích trong Kinh thành Huế gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử cấm thành. Các di tích bên ngoài Kinh thành Huế gồm các lăng tẩm, chùa chiền, cung điện…

Nằm giữa lòng Huế bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiên trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động của thời gian. Đó là Kinh thành Huế Hoàng thành Huế Tử cấm thành Huế, ba tòa thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực cùng sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiên trúc Đông và Tây. Đó là Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Kinh thành Huế phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo; phía tây giáp đường Lê Duẩn; phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ; phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu. Kinh thành Huế gồm: Kỳ Đài, Trường Quốc Từ Giám, Điện Long An, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế Đình Phú Xuân, Hồ Tịnh Tâm, Tàng thư lâu Viện Cơ Mật – Tam Tòa, Đàn Xã Tắc, Cửu vị thần công.

Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn .và bảo vệ Tử Câín Thành – nơi dành riêng cho vua và hoàng gia Hoàng Thành và Tử Cấm Thành thường được gọi chung là Đại Nội. Các di tích trong Hoàng Thành gồm: Ngọ Môn, Điện Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi, Triệu Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh, Hiển Lâm Các, Cửu Đinh, Điện Phụng Tiên. Hoàng Thành giới hạn bời một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xi 600m với 4 cổng ra vào độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn.

Bên trong Hoàng Thành, hơi dịch về phía sau, là Tử Cấm Thành. Từ Cấm Thành là vòng tường thành thứ ba của Kinh đô Huế giới hạn khu vực làm ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia. Các di tích trong Tử Cấm Thành gồm: Tả Vu và Hữu Vu, Vạc đổng, Điện Kiến Trung, Điện Cần Chánh, Thái Bình Lâu, Duyệt Thị Đường.

Xuyên suốt cả ba tòa thành, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan yếu nhât của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Điện Cẩn Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiên Trung… Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bô trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng thanh thản.

Các di tích ngoài kinh thành Huế bao gồm Lăng tẩm và một số di tích khác. Về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn bao gồm: Lăng Gia Long – còn gọi là Thiên Thọ Lằng, thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyền. Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng đế chôn cất vua cha Minh Mạng cách cố đô Huế 12 km. Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng, là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn. Lăng Đồng Khánh còn gọi là Tư Lăng xây dựng để thờ cha, khi Đồng Khánh đột ngột qua đời, Vua Thành Thái (1889 – 1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn không thể xây cất lăng tấm cho cha, đành đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh. Lăng Dục Đức tên chữ An Lăng cách trung tâm thành phốchưa đầy 2km; là nơi an táng của 3 vua nhà Nguyễn: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân. Lăng Khải Định còn gọi là Ứng Lăng tọa lạc trên triền núi Châu Chữ bên ngoài kinh thành Huế được xâv dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi, pha trộn kiên trúc Đông Tây Kim cổ lạ thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo. Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiến nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn. Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ.

Các di tích khác bao gồm: Trấn Bình Đài và cửa Trấn Bình. Trân Bình đài nằm ở vị trí Đông Bắc kinh thành Huế Phu Văn Lâu nằm trên trục chính của Hoàng Thành Huế phía trước Kỳ Đài dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triểu đình tổ chức. Tòa Thương Bạc tọa lạc bên bờ Nam sông Hương, là trụ sở để đón tiếp các sứ thần nước ngoài. Văn Miếu còn gọi là Văn Thánh Miếu là nơi thờ Khổng Tử và dựng bia tiến sĩ. Võ Miêu hay Võ Thánh miêu, là nơi thờ phụng và ghi danh những danh tướng Việt Nam, những tiến sĩ đỗ trong ba khoa thi võ dưới triều Nguyễn. Đán Nam Giao triều Nguyễn là nơi các vua Nguyễn tế trời. Hổ Quyền còn đọc là Hổ Khuyên là một chuồng nuôi hổ và là một đâu trường độc đáo, đây là đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiến. Điện Voi Ré để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Điện Hòn Chén tọa lạc trên núi Ngọc Trán, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tinh Thừa Thiên – Huế. Ngày xưa người Chàm thờ nử thần PoNagar, sau đó người Việt tiếp tục thờ bà xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây, là ngôi chùa cổ nhất của Huế. Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) là một thành lũy dùng để bảo vệ kinh đô triều Nguyễn được xây dựng ở cửa Phía Đông, kinh thành Huế. Nghênh Lương Đình hay Nghênh Lương Tạ dùng làm nơi nghi chân của nhà vua trước khi đi xuống bên sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát. Cung An Định tọa lạc bên bờ sông An Cựu, là cung điện riêng của vua Khái Định từ khi còn là thái từ đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thuỵ thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.

Tất cả những công trình kiến trúc trên được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế – đó là núi Ngự Bình dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh… Nhìn từ phía ngược lại những công trình kiến trúc ở đây như hoà lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu kỳ diệu khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó. Ngày nay, Huế trở thành một thành phố Festival đặc trưng cùa Việt Nam. Cứ hai năm một lần, nhân dân thành phốHuế lại đón chào ngàv lễ hội trọng đại này trong niềm háo hức. Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thâdn mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới. Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn – cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào của chúng ta. Huế hấp dẫn và chiếm được tình cảm của nhiều người, trong nước cũng như quốc tế.

Thuyết minh về quần thể di tích cố đô Huế – Bài số 2

Cố đô Huế là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam hàng năm thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Huế là vùng đất kinh kỳ xưa được nhà Nguyễn xây dựng làm trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20.

Nơi đây từng là kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, nơi chứng kiến biết bao thăng trầm trong một giai đoạn lịch sử chuyển giao giữa thời kỳ Phong kiến, thuộc địa và thời kỳ xây dựng đất nước trong thời đại mới. Ngày nay, Huế hầu như còn lưu giữ khá nguyên vẹn các công trình kiến trúc đặc trưng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trải qua 143 năm từ năm 1802 đến năm 1945. Một trong những công trình kiến trúc đặc trưng tiêu biểu và hoành tráng nhất trong quần thể di tích cô đô Huế đó là Kinh Thành Huế. Hệ thống kinh thành ngày này gồm rất nhiều công trình kiến trúc quan trọng, nơi từng là trung tâm chính trị của cả nước và là nơi trị vì của 13 vị vua triều Nguyễn.

Kinh Thành – Kỳ Đài Huế

Địa điểm lý tưởng nhất để hướng dẫn viên giới thiệu về Kinh Thành Huế chính là ở lầu Ngũ Phụng, nơi du khách có thể nhìn thấy được dòng sông Hương, núi Ngự Bình phía xa và Cồn Hến, cồn Dã Viên. Đây chính là một trong những yếu tố phong thủy cho Kinh Thành Huế. Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long, là vị vua khai quốc của triều đại nhà Nguyễn.

Công cuộc khảo sát để xây dựng Kinh Thành Huế bắt đầu từ năm 1803, chính thức khởi công vào năm 1805 hoàn chỉnh vào khoảng những năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng. Có thể nói rằng, kinh thành Huế là một trong những thành tựu vỹ đại của vua Gia Long và triều Nguyễn.

Kinh thành Huế được xây dựng trên diện tích khoảng 520 ha có chu vi 10km cao 6,6m dày 21m. Thành có kiến trúc hình Vauban được xây khúc khỉu với những pháo đài phòng thủ được bố trí gần như điều nhau trên mặt thành. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối thời vua Gia Long thành mới được cho ốp gạch như chúng ta thấy ngày hôm nay. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hộ thành hào chạy dọc theo chân thành có tác dụng như là chướng ngại vật có chức năng phòng thủ vừa có chức năng giao thông thủy.

Kinh thành Huế xoay mặt về hướng Nam theo phong thủy trong Kịch dịch “Thánh nhân nam diện, vi thính thiên hạ” Có nghĩa là “Vua phải quay mặt về hướng nam để trị vì thiên hạ”.

Kinh thành Huế lấy núi ngự bình cao 104m về phía nam làm yếu tố Tiền Án, Sông hương chảy qua trước mặt kinh thành làm yếu tố Minh Đường. Hai bên tả hữu sông có cồn Hến và cồn Dã Viên làm yếu tố tả Thanh Long và Hữu Bạch Hỗ. Tổng cộng kinh thành Huế có tất cả 13 của ra vào cả đường bộ và đường thủy. Thành có 10 của chính gồm:

Cửa Chính Bắc (Còn gọi là cửa Hậu, nằm phía sau kinh thành)

Cửa Tây – Bắc (Cửa An Hòa)

Cửa Chính Tây

Cửa Tây – Nam (Cửa Hữu, bên phải Kinh Thành)

Cửa Chính Nam (Cửa Nhà Đồ)

Cửa Quảng Đức

Cửa Thể Nhơn (Cửa Ngăn)

Cửa Đông Nam (Cửa Thượng Tứ)

Cửa Chính Đông (Cửa Đông Ba)

Cửa Đông Bắc (Cửa Kẻ Trài)

Ngoài ra kinh thành còn 1 cửa thông với Trấn Bình Đài hay còn gọi là đồn Mang Cá một góc thành nhỏ ở phía Đông Bắc. Đặc biệt kinh thành Huế còn có 2 cửa Thủy được đặt tên là:

– Đông thành Thủy Quan hay còn gọi là Cống Lương Y thông giữa sông Ngự Hà và sông đào Đông Ba.

– Tây Thành Thủy quan hay còn gọi là cống Thủy Quan thông giữa sông Ngự Hà và sông đào kẻ Vạn ở khy vực Kim Long.

Phía trước kinh thành Huế về hướng Nam là hướng quan trọng nhất của Kinh Thành có Kỳ đài hay còn gọi là Cột Cờ cố đô Huế. Kỳ Đài được xây dựng vào năm 1807 dưới thời vua Gia Long. Đến thời vua Minh Mạng, Kỳ Đài được tu sửa hoàn chỉnh vào các năm 1829, 1831 và 1840.

Kỳ Đài gồm 2 phần chính là Đài và Cột cờ.

Đài gồm 3 tầng hình chóp cụt hình chữ nhật chồng lên nhau tượng trưng cho Thiên địa và Nhân. Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao khoảng 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m. Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5 m. Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4 m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2 m. Ðỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới. Trước đây còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.

Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30 m. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32 m. Đến năm Thành Thái thứ 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37 m hiện nay mới được xây dựng

Ngày nay Kỳ Đài Huế được treo Quốc kỳ của nước Việt Nam có diện tích 9 x 12m.

Cửu vị Thần Công: Cửu vị Thần Công là tên gọi của 9 khẩu Đại Bác được đặt hai bên cửa Quảng Đức và Thể Nhơn. Hiện nay, du khách khi vào tham quan Hoàng Thành Huế sẽ bắt gặp khi đi qua cửa Quảng Đức và Thể Nhơn. Cửu Vị thần Công được các nghệ nhân đúc đồng Huế đúc theo lệnh của vua Gia Long sau khi đánh bại triều Tây Sơn. Năm 1803 sau khi chiếm lại kinh đô Phú Xuân, vua Gia Long lên ngôi đã truyền tập hợp tất cả các binh khí bằng đồng của triều Tây Sơn đúc thành 9 khẩu đại bác và đặt tên là Cửu Vị Thần Công nhằm kỷ niệm chiến thắng. Mỗi khẩu đại bác dài 5,1m và nặng khoảng 17,000 kg. Ngày nay chúng ta vẫn còn thấy rõ kích cỡ và trọng lượng được khắc trên mỗi khẩu đại bác. Đồng thời còn ghi rõ cách thức sử dụng súng cũng như thuốc súng ở trên mỗi khẩu Đại Bác. Mỗi khẩu thần công được đặt theo Ngũ Hành gồm 5 khẩu hiện nay để ở cửa Quảng Đức là : Kim, Mộc, thủy, Hỏa, Thổ và 4 khẩu được đặt theo tứ thời là: Xuân, Hạ, Thu, Đông ngày nay được đặt ở cửa Thể Nhơn.

Hoàng Thành Huế: Hoàng Thành Huế là vòng thành thứ 2 bên trong Kinh Thành Huế có chiều dài mỗi mặt thành khoảng 600m và gần như là vuông. Chiều cao khoảng 4, và dày 1m được xây bằng gạch vồ. Hoàng Thành chính là trái tim và là nơi quan trọng nhất của Kinh thành Huế, nơi đặt các cung điện, ngai vàng, trung tâm chính trị và nơi ở và làm việc của Hoàng gia triều Nguyễn. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành được xây dựng vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long nhưng mãi đến năm 1833 mới hoàn chỉnh hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình lớn nhỏ khác nhau. Hoàng Thành được trổ 4 cửa để ra vào gồm: Cửa Ngọ Môn nằm ở phía nam được xem là cửa quan trọng nhất nơi đặt lễ đài là lầu Ngũ Phụng được xem như là bộ mặt của Quốc gia, nơi đón xứ thần các nước. Cửa phía Bắc được đặt tên là cửa Hòa Bình, tả hữu hai bên là cửa Hiển Nhơn và Chương Đức. Các cầu và hồ xung quanh hoàng thành điều có tên gọi là Kim Thủy. Hoàng Thành và các Cung điện bên trong điều được bố trí trên một trục đối xứng gọi là trục Thần Đạo. Trong đó chính giữa trục Thần Đạo chỉ bố trí các công trình dành cho vua như cửa Ngọ Môn, cầu Trung Đạo, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, Cửa Hòa Bình. Hai bên trục thần đạo tính từ trong ra ngoài được bố trí tuân theo nguyên tắc: Tả Văn Hữu Võ, Nam tả nữ Hữu hay Tả Chiêu Hữu Mục.

Ngọ Môn – Lầu Ngũ Phụng:

Cửa Ngọ môn là cửa chính của Hoàng Thành Huế là cửa quan trọng nhất trong 4 cửa của Hoàng thành nơi dành để cho vua đi trong các dịp lễ quan trọng và là nơi diễn ra các buổi lễ quan trọng như lễ: đón tiếp xứ thần các nước, lễ sướng tên các Tiến Sỹ, lễ Ban Sóc và lễ Duyệt Binh. Vị trí của cửa Ngọ Môn trước đây có tên là Nam Khuyết Đài được xây dựng vào thời vua Gia Long, phía trên đài có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa tả hữu Đoan Môn. Đến năm Minh Mạng thứ 14 tức năm 1833 khi vua Minh Mạng cho quy hoạch lại toàn bộ kinh thành Huế đã cho phá bỏ Nam Khuyết Đài và xây dựng của Ngọ Môn và Lầu Ngũ Phụng như ngày hôm nay. Cửa Ngọ Môn gồm có 2 phần chính là phần Đài Cổng và Phần lầu Ngũ Phụng. Phần cửa Ngọ Môn hay còn gọi là phần nền đài được xây dựng bằng gạch vồ và đá Thánh, móng được gia cố chịu lực bằng đồng thau. Nền đài có hình chữ U vuông góc có chiều dài đáy 57,77m chiều dài cánh 27,06m chiều cao 5m với diện tích tính phần chữ U là 1560m2. Ở phần giữ nền đài nhìn từ ngoài vào có 3 cổng chính: Cổng chính giữa đặt tên là Ngọ Môn và chỉ được dành cho Vua, hai cửa hai bên được đặt tên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn và quan vỏ theo nguyên tắc Tả Văn Hữu Vỏ.

Đặc biệt hai bên cánh chữ U có 2 cửa vòng nhỏ mà chỉ được nhìn thấy từ phía trong ra ngoài đó là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn. Hai cửa quanh này chỉ dành cho voi ngựa, quân lính và đoàn tùy tùng khi vua xuất hành qua cửa Ngọ Môn.

Phần lầu Ngũ Phụng: Công trình kiến trúc đẹp nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế được xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn. Lầu Ngũ Phụng có mặt bằng hình chữ U dựa theo nền móng của cửa Ngọ Môn gồm 2 tầng lầu và hai tầng mái. Lầu được dựng trên nền cao 1,14m xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn. Khung của lầu được dựng trên 100 cây cột gỗ Lim tượng trưng cho Bách tính trăm họ trong thiên hạ, trong đó có 48 cây cột xuyên xuốt 2 tầng lầu. Hệ thống mái dưới chạy quanh lầu xuyên suốt để che nắng che mưa cho tất cả các phần lang cang phía dưới. Hệ thống mái tầng trên phức tạp hơn được chia làm 9 bộ mái trong đó bộ mái giữa cao hơn 8 bộ mái 2 bên được dành cho vua ngự. Bộ mái giữa được lợp bằng ngói Hoàng Lưu Ly màu vàng tượng trưng cho nhà vua. 8 bộ mái còn lại chia điều cho hai bên được lợp mái Thanh Lưu Ly màu xanh ngọc.

Chức năng của cửa Ngọ Môn và Lầu ngũ phụng: Cửa Ngọc Môn và Lầu ngũ phụng là công trình kiến trúc quan trọng nó được xem như là một lễ đài và bộ mặt của quốc gia. Nơi đây một năm chỉ có vài ngày diễn ra các lễ lớn quan trọng của đất nước, còn lại quanh năm cổng chỉnh được đóng kín và chỉ mở ra khi có dịp vua vi hành có đoàn tùy tùng hoặc khi vua xuất cung tế đàn Nam Giao.

Lễ truyền lô: Ngày nay khi tham quan lầu Ngũ Phụng, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng bức tranh sơn dầu mô tả lại lễ truyền Lô hay còn gọi là lễ sướng tên khác sỹ tử đỗ Tiến Sỹ trong cuộc thi Đình tại Kinh Thành. Vào buổi lễ truyền lô, đoàn xa giá của vua xuất phát từ điện Thái Hòa sau đó lên lầu Ngũ Phụng. Vua ngự trên ngai vàng được đặt chính giữa lầu Ngũ Phụng.

Phí dưới dân Ngọ Môn. Các sỹ tử đỗ Tiến sỹ trong khoa thi Đình đứng lần lượt hai bên theo nguyên tắc tả văn hữu vỏ chờ quan bộ Lễ tuyên đọc sắc phong vua ban. Sau đó lần lượt các sỹ tử sẽ nhận ấn tứ Vinh quy và được cưỡi ngựa về làng Vinh Quy Bái Tổ. Theo luật lệ triều Nguyễn. Làng nào có sỹ tử đỗ khoa thi Đình sẽ được miễn thuế 3 năm. Cho nên nhân gian có câu truyền miệng “Một người làm quan, cả họ được nhờ”.

Lễ Ban Sóc: Lễ phát lịch hàng năm của nhà vua cho năm mới.

Lễ tiếp xứ thần các nước: Ngọ Môn cũng là nơi làm lễ tiếp đón các xứ thần các nước lân ban trong đó có xứ thần Trung Quốc.

Lễ Duyệt Binh.

Dấu mốc lịch sử quan trọng đã diễn ra tại Ngọn Môn:

Trải qua 143 năm trì vị của nhà Nguyễn, chứng kiến biết bao thăng trầm trong tiến trình lịch sử. Ngọ môn bản thân nó cũng chứng kiến rất nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam mà điển hình là lễ thoái vị của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ Phong Kiến Việt Nam. Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công vang dội trong cả nước, vua Bảo Đại lúc đó dưới sự chứng kiến của đại diện chính phủ lâm thời cách mạng đã trao ấn kiếm của nhà vua là biểu tượng quyền lực của chế độ phong kiến cho ông Trần Huy Liệu và Nguyễn Lương Bằng. Vua Bảo Đại đã đọc chiếu thoái vị và được ông Cù Huy Cận gắn huy hiệu công nhân Việt Nam lên áo. Tại đây, vua Bảo Đại đã có một câu nói nổi tiếng “Trẫm thà làm dân một nước tự do độc lập còn hơn làm vua của một nước nô lệ”.

Điện Thái Hòa: Điện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế. Là nơi đặt ngai vàng của các vị vua nhà Nguyễn, là trung tâm chính trị của cả nước trong 143 năm. Điện Thái hòa được đặt ở Trung Tâm khu vực Hoàng Thành, theo phong thủy là nơi trung tâm của vũ trụ. Điện quay mặt về hướng chánh nam được nối với cửa Ngọ Môn bằng một cây cầu đá bắt qua hồ Thái Dịch được gọi là cầu Trung Đạo. Xưa kia cầu Trung Đạo chỉ dành cho vua đi. Các quan văn võ phải đi hai lối hai bên tả hữu để vào sân chầu hay còn gọi là sân Đại Triều Nghi. Phía đầu và cuối cầu Trung Đạo được dựng hai chiếc cổng có hình lưỡng long chầu Nhật. Phía trên có khắc 4 chữ “ Chính đại quang minh” và “Chính trực đẳng bình” có ngụ ý rằng thiên tử khi đi qua đây để trị vì thiên hạ phải có cái tâm chính trực bình đẳng và quang minh chính đại. Phía trước điện Thái Hòa là sân Đại Triều Nghi, nơi thiết hành lễ Đại Triều vào ngày mồng 1 và 15 hàng tháng.

Về lịch sử xây dựng: Điện Thái Hòa được xây dựng vào tháng 2 năm 1805 dưới thời vua Gia Long và hoàn thành vào tháng 10 cùng năm. Năm 1833 khi vua Minh Mạng cho quy hoạch lại toàn bộ Hoàn Thành, điện Thái Hòa được dời về mé phía Nam của Hoàng Thành và cho làm lại quy mô lớn và lộng lẫy hơn. Năm 1923 dưới thời vua Khải Định để chuẩn bị cho lễ Tứ Tuần của Nhà vua (Mừng vua tròn 40 tuổi) diễn ra vào năm 1924, điện Thái Hòa lại được trùng tu thêm lần nửa.

Về chức năng của điện Thái Hòa: Điện Thái Hòa là biểu trưng quyền lực của Hoàng triều Nguyễn. Điện, cùng với sân chầu, là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Vào những dịp này, nhà vua ngồi uy nghiêm trên ngai vàng. Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu.

Kiến trúc: Điện Thái Hòa là nơi thể hiện uy quyền của quốc gia, điện được xây trên nền cao 1 mét, diện tích 1360 m², nguy nga bề thế trông ra một sân rộng.

Cung điện được xây theo lối trùng thiềm điệp ốc và được chống đỡ bằng 80 cột gỗ lim được sơn thếp và trang trí hình rồng vờn mây – một biểu tượng về sự gặp gỡ giữa hoàng đế và quần thần đúng như chức năng vốn có của ngôi điện. Nhà trước và nhà sau của điện được nối với nhau bằng một hệ thống trần vòm mai cua dưới máng nước nối của hai mái nhà (thuật ngữ kiến trúc gọi là máng thừa lưu). Chính trần mai cua này nối với nửa trong tạo ra một không gian nội thất liên tục, thống nhất, rộng rãi, không còn cảm giác ghép nối hai tòa nhà. Việc ứng dụng máng thừa lưu là một sáng tạo của người xây dựng điện, nó chẳng những che kín được sự lõm xuỗng của nơi nối hai mái mà còn tạo nên nhịp điệu kiến trúc. Đây cũng là một dụng ý của kiến trúc sư. Do thời tiết và kiến trúc cổ truyền Việt Nam mà điện không thể xây cao như của Trung Quốc, vì vậy nửa ngoài mái cao hơn, nửa trong mài thấp hơn. Mục đích là tạo cảm giác "cao" cho gian ngoài- nơi bá quan hành lễ, bên trong thấp vừa làm nổi bật gian ngoài vừa là nơi vua ngồi nên kín đáo, uy nghiêm. Hệ thống vì kèo nóc nhà sau tương đối đơn giản, chỉ làm theo kiểu "vì kèo cánh ác", nhưng hệ thống vì kèo nóc nhà trước thì thuộc loại vì kèo "chồng rường – giả thủ" được cấu trúc tinh xảo. Toàn bộ hệ thống vì kèo, rường cột, ở đây đều liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng chắc chắn. Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly, nhưng không phải là một dải liên kết mà được chia làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái "chồng diêm", mục đích là để tránh đi sự nặng nề của một tòa nhà quá lớn đồng thời để tôn cao ngôi điện bằng cách tạo ra ảo giác chiều cao cho tòa nhà. Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt của tòa nhà. Dải cổ diêm được phân khoảng ra thành từng ô hộc để trang trí hình vẽ và thơ văn (197 bài thơ) trên những tấm pháp lam theo lối nhất thi nhất họa. Trang trí cũng như kiến trúc của điện Thái Hòa nói chung, có một khái niệm đặc biệt đáng chú ý là con số 5, và nhất là con số 9. Hai con số này chẳng những xuất hiện ở trang trí nội ngoại thất của tòa nhà mà còn ở trên các bậc thềm của điện. Từ phía Đại Cung Môn của Tử Cấm Thành đi ra điện Thái Hòa, vua phải bước lên một hệ thống bậc thềm ở tầng nền dưới là 9 cấp và ở tầng nền trên là 5 cấp. Trước mặt điện số bậc cấp bước lên Đệ nhị Bái đình và Đệ nhất Bái đình cộng lại là 9. Tiếp đó, hệ thống bậc thềm ở nền điện cũng có 5 cấp. Đứng ở sân Đại triều nhìn vào hay từ phía Tử Cấm Thành nhìn ra người ta đều thấy trên mỗi mái điện đều được đắp nổi 9 con rồng ở trong các tư thế khác nhau: lưỡng long chầu hổ phù đội bầu rượu, lưỡng long triều nhật, hồi long (rồng quay đầu lại), rồng ngang v.v…Ở nội điện cũng thế, từ ngai vàng, bửu tán, các mặt diềm gỗ chung quanh cho đến mỗi mặt của ba tầng bệ mỗi nơi đều trang trí một bộ 9 con rồng.

Thuyết minh về quần thể di tích cố đô Huế – Bài số 3

Huế từ xa xư­a đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của xứ "Đàng Trong" và chính thức trở thành kinh đô dưới triều Tây Sơn. Trong gần 4 thế kỷ, Huế đã trở thành một quần thể di tích kiến trúc và thắng cảnh vĩ đại, tổng thể di tích này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Nằm ở bờ Bắc sông Hương, tổng thể kiến trúc của cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500 Ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành. Tổng thể kiến trúc này dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng hai hòn đảo nhỏ trên sông Hương là Cồn Hến và Dã Viên làm 2 yếu tố phong thuỷ rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ cố đô.

Kinh Thành Huế

Do vua Gia Long xây dựng từ năm 1805 và sau này được vua Minh Mạng tiếp tục hoàn thành vào năm 1832. Tại đó các vua triều Nguyễn đã cho xây dựng khá nhiều thành quách, cung điện và các công trình của hoàng gia. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như­ nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ.

Kinh thành hình vuông với chu vi 10 km, cao 6,6 mét, dày 21 mét, gồm có 10 cửa để ra vào. Xung quanh và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ. Ngoài ra còn có một cửa phụ thông với Trấn Bình Đài gọi là Thái Bình Môn.

Hoàng Thành (Đại Nội)

Nằm ở khoảng giữa kinh thành là nơi đặt các cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tự các vua chúa đã quá cố. Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4 mét, dày 1 mét xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào, riêng Ngọ Môn chỉ dành để cho vua đi. Đại Nội gồm có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp được chia ra nhiều khu vực:

Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hoà: nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.

Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và điện Phụng Tiên: nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.

Phủ Nội Vụ: nhà kho tàng chữ đồ quý, x­ưởng chế tạo đồ dùng cho Hoàng Gia.

Vườn Cơ Hạ và điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa.

Tử Cấm Thành

Là vòng thành nằm trong Hoàng Thành ngay sau Lưng điện Thái Hoà. Tử Cấm Thành dành riêng cho vua và gia đình vua. Tử Cấm Thành được xây dựng năm 1804. Thành cao 3,72 mét xây bằng gạch, dày 0,72 mét, chu vi khoảng 1230 mét, phía trước và phía sau dài 324 mét, trái và phải hơn 290 mét, bao gồm gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ và có 7 cửa ra vào. Đại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua đi vào. Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày). Càn Thành (nơi vua ở), Cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi). Duyệt Thi Đường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua). Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách)… Ngoài ra, Huế còn nổi tiếng bởi khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn. Bảy lăng, mỗi lăng mang một sắc thái riêng nhưng đều là những kỳ công tạo tác của con người phối hợp với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp và thơ mộng của xứ Huế.

Cố đô Huế với sông Hương và núi Ngự và các cung điện lâu đài, lăng tẩm, đền, miếu, chùa chiền đã có hàng mấy trăm năm lịch sử giờ đây đang được nhân dân Việt Nam cùng cộng đồng Quốc tế đóng góp công sức và tiền của để tôn tạo tu bổ giữ cho kiến trúc cố đô Huế mãi mãi là di sản văn hoá của nhân loại.

Cung Diên Thọ

Nơi ở của Hoàng Thái Hậu (mẹ vua) , dựng năm 1804, ở ngoài khu vực Tử Cấm Thành (mé bên phải) , ngoài cung còn có nhiều công trình lớn nhỏ khác nữa, nằm gọn trong một khu vực hình chữ nhật, chu vi trên 500m, có tường cao vây bọc. 

Qua Thọ Chỉ Môn là cổng chính sẽ tới một sân rộng có tấm bình phong đồ sộ án ngữ phía trước. Hai bên sân có một số công trình kiến trúc, bên trái là nhà Tả Trà, bên phải là lầu Tịnh Minh. Cung Diên Thọ nằm ở vị trí trung tâm, dựng theo kiểu "trùng thiền diệp ốc", nền thấp, có hiên rộng mái lợp ngói âm dương, trang trí hình chim phượng; bờ nóc, bờ mái. dải cổ diêm…đắp ô học, gắn những bức tiểu họa nhiều màu sắc. Các bộ phận kết cấu gỗ ở bên trong Cung Diên Thọ đều bằng gỗ lim không sơn son thiếp vàng, chỉ đánh bóng hoặc chạm hình hoa lá cách điệu và các mẫu hình trang trí truyền thống khá trang nhã tinh tế.

Tòa chính dinh gồm bảy gian; hai gian đầu bên phải và hai gian đầu bên trái được ngăn thành buồng, kín đáo riêng biệt nhưng hơi tối: ba gian giữa là nơi tiếp khách. Phía sau cung Diên Thọ là điện Thọ Ninh, bên trái là tạ Tr­ường Du, bên phải là Am Ph­ước Thọ, tất cả đều nối với cung bằng một hệ thống hành lang có mái che. Cung Diên Thọ cũng được nối lên với điện Câu Thành (nơi vua ở) và Thái Bình Lâu. Duyệt Thị Đường bằng hệ thống tr­ường lang. có mái che, tạo thành lối đi lại rất thuận tiện trong mọi thời tiết.Cung Diên Thọ là một công trình kiến trúc lớn, có nhiều vẻ đẹp độc đáo thâm nghiêm ấm cúng trang nhã còn được bảo tồn khá tốt cho tới nay.

Lăng Gia Long

Gia Long lên ngôi năm 1802, sau một thời gian dài tìm kiếm, đất tốt mãi đến năm 1814 mới bắt đầu cho xây dựng lăng. Từ việc chọn đất vẽ kiểu.v.. Nhà Vua đều đích thân tham gia, năm 1819, Gia Long qua đời năm sau (1820) việc xây lăng được hoàn thành Lăng mang tên thiên thọ, cách kinh thành Huế 16Km ( theo Đường thuỷ là19km) nằm theo hướng Bắc Nam giữa một vùng núi non hoang sơ, xanh rợp bóng thông cổ thụ, có 36 ngọ núi châu tuần xung quanh hai bên là nguồn hữu trạch, nguồn tả trạch như­ vòng tay ôm ấp. Lăng được xây dựng theo kiến thức đơn sơ nhưng hoành tráng bên chân núi đại thiên thọ được lấy làm tiền án có dựng hai cột trục cao trước lăng là hồ bán nguyệt : phía sau hồ là sân chầu , rồi đến sân tế 6 lớp.

Lăng Minh Mạng

Khởi công xây dựng vào năm 1804, sau hàng chục năm lựa chọn đất tốt. Năm 1843 gần 3 năm sau khi Minh Mạng qua đời lăng mới được xây dựng mang tên Hiếu lăng , cách kinh thành 12km (vùng đồi cẩm kê, nhìn ra ngã 3 bằng lăng) chiếm một diện tích 26ha, gồm trên 30 công trình kiến trúc lớn nhỏ lăng chia làm hai khu vực, nơi thờ và nơi đặt mộ, nằm trên một trục dọc xuyên suốt cả khu vực. Những công trình chủ yếu đều được xây dựng trên trục chính này; công trình khác làm đăng đối ở hai bên, theo một trật tự nghiêm ngặt. Cả khu lăng tẩm được điểm xuyết bằng nhiều hồ sen, cầu, cổng, đình tạ, vườn hoa cây cảnh, thông. .., rất ngoạn mục.

Vây bọc quanh lăng là thành hình bầu dục, chu vi gần 1800m; tường thành cao trên 3m, dày gần 1m. Phía trước có ba cổng lớn. Cổng chính giữa là Đại Hồng Môn, hai bên là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn. Sau Đại Hồng Môn là sân chầu rộng thênh thang; hai bên sân có tượng đá văn quan võ t­ướng và voi ngựa chầu hầu. Tiếp đó là nhà bia – một tòa nhà vuông vức dựng trên nền cao ba tầng. Phía trước phía sau đều có bậc đá để lên xuống, thành bậc tạc rồng. Trong nhà bia đặt tấm bia thánh đức thần công cao trên 3m, rộng gần 2m, khắc bài văn bia do vua Thiệu Trị soạn thảo. Sau nhà bia là sân tế, chia làm 4 cấp cao dần.

Cuối sân tế là Hiển Đức Môn, cổng vào khu thờ được xây kín bằng một vòng tường thành (nội la thành) hình chữ nhật. Sau Hiển Đức Môn là một sân rộng lát gạch Bát Tràng. Cuối sân là điện Sùng Ân – điện thờ chính dựng theo kiểu "Trùng thiền diệp ốc". Hai bên sân là Đông Phối điện và Tây Phối điện. Sau điện Sùng Ân lại có một sân nữa, hai bên sân là Tả Tùng viện và Hữu Tùng viện: Phía sau khu điện thờ, qua của Hoàng Trạch là lối đi dẫn tới cầu Trung đạo bắc ngang qua Hồ Trư­ờng Minh, hai bên song song với cầu Trung Đạo là cầu Tả Phụ và cầu Hữu Bột. Qua cầu Trung Đạo, cách một sân hẹp là tới Minh Lâu – tòa nhà vuông hai tầng tám mái lợp ngói lư­u ly dựng trên nên cao, khá nguy nga đồ sộ.

Qua Minh Lâu đi tiếp theo Đường thần đạo, hai bên có vườn hoa, già sơn và hai bên cột trụ biển cao tới 21m sẽ tới cầu "Thông Minh Chính Trực" bắc ngang qua hồ tân Nguyệt. Hai đầu cầu có dựng "bái môn", trụ đông, xa dòng, trang trí bằng các tấm men pháp lam các màu. Qua cầu là một sân hẹp, tiếp đó là hệ thống bậc đá dẫn tới bửu thanh hình tròn (viên thành), trong đặt mộ vua.

Lăng Minh Mạng với hệ thống điện thờ, lầu gác trùng trùng lớp lớp đăng đối chỉnh tề như­ trên đã tạo ra một cảnh thế Đường bệ uy nghiêm, phản ánh được phần nào tưởng và cá tính của ông vua nổi tiếng chuyên chế này.

Lăng Tự Đức

Cách kinh thành chừng 7km, giữa một rừng thông cùng với nhiều.cây cao bóng cả khác. Cả khu vực lăng được vây quanh bằng một vòng la thành, đoạn thẳng, đoạn gấp khúc, tạo nên một hình đa giác, mở bốn cửa. Hiện nay ra vào lăng thường qua cửa Vu Khiêm ở mặt bên. Mặt chính có hai cửa (cửa Tự Khiêm và của Thượng Khiêm, cách nhau một quãng ngắn, được nối liền bằng một bình phong. Lăng Tự Đức cũng chia làm hai khu vực, nơi thờ cúng (tẩm) và nơi đặt phần mộ (lăng), nhưng không bố trí trên một trục chính xuyên tâm như­ lăng Minh Mạng. Ở đây, chúng ta thấy một sự phá cách theo hướng bố cục tự do nhưng vẫn tuân thủ chặt chẽ tư tưởng chủ đạo trong ý đồ xây dựng lăng tẩm của các bậc đế vương (nổi bật nhất là ý thức tôn quân và tôn ti trật tự phong kiến) và vẫn cố gắng đáp ứng một cách đầy đủ nhất những chuẩn mực tối ­ưu của thuật phong thủy.

Lăng xây dựng xong vào năm 1867. M­ười sáu năm sau, năm 1883, vua Tự Đức mới qua đời. Lúc còn sống, nhà vua vẫn thường ra đây nghỉ ngơi giải trí, đọc sách ngâm thơ. Vì vậy, trong lăng còn có rất nhiều công trình kiến trúc rất đẹp nh­ư cung điện, lầu gác, đình tạ, cầu quán, hồ sen, vư­ờn cảnh, nhà hát…, phối trí hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, tạo nên nhiều vẻ đổi thay kỳ thú.

Lúc đầu lăng mang tên Khiêm Cung, sau mới đổi thành Khiêm Lăng. Tên của 50 công trình kiên trúc lớn nhỏ trong lăng đều có chữ Khiêm nhằm biểu đạt ý nguyện "khiêm nhượng" của nhà vua.

Qua của Vụ khiêm, có con đường lớn không kéo dài thẳng băng mà mềm mại uốn khúc, dần tới các khu vực khác nhau trong lăng. Bên phải lối đi là hồ L­u Khiêm, giữa là đảo Tịnh Khiêm, nơi nuôi chim thú nhỏ và trồng nhiều cây cảnh, hồ có ba nhịp (cầu Tiễn Khiêm, cầu Do khiêm, cầu Tuần Khiêm). Ven hồ có hai nhà thủy tạ, nơi vừa đọc sách, hóng mát, và cũng là bến thuyền rồng, Xung Khiêm tạ và Dũ Khiêm tạ. Xung Khiêm tạ ở phía bên kia hồ là một kiểu nhà ghép tiếp mái gồm hai tòa nhà đặt trên hai độ cao chênh nhau: toà phía sau dựng trên đất liền toà phía trước nối tiếp với toà phía sau nhô ra hồ được đỡ bởi ba hành cột (54 cột) phía trên không có tường bao xung quanh chạy lan can rất thoáng. Dũ khiêm ta ở phía bên này hồ, đối diện với phía khiêm cung môn cổng chính dẫn vào điện toà Khiên nơi thờ Vua và Hoàng Hậu phía trước điện thờ là sân rộng hai bên có hai dẫy tả vu hữu vu (mang tên lễ Khiêm vu, pháp khiêm vu) sau điện thờ là một mảnh sân hẹp hai bên sân cũng có hai toà nhà một bên là Minh Khiên Đường – nhà hát có sân khấu, cánh gà, buồng trò, chỗ ngồi xem trần lát ván có khắc hình trang trí, mặt trời mặt trăng các trùm sao tượng trư­ng cho nhị thập bát tú đối diện với Minh khiêm Đường là Ôn khiêm Đường nơi ở của các cung nhân trông coi việc đèn nhang phía sau điện hoà khiêm là điện lương khiêm nơi thờ bà mẹ vua Tự Đức.

Phía ngoài khu thờ còn có một công trình phụ khác vốn là nơi ở của các cung tần và những người hầu hạ phục dịch (lúc nhà vua còn sống) gần đó còn có vườn nuôi nai nữa.

Theo một trục chính bên ngoài thiên cung môn đi tiếp theo hướng Bắc sẽ đi tiếp sang khu vực đặt phần mộ nằm song song với khu điện thờ ở bên mé tay trái theo hướng Tây Đông và lui vào phía trong một chút phía ngoài cùng là bái đình hướng thênh thang tiếp đó là bia đình đồ sộ trong đặt tấm bia lớn nhất trong số các bia, Thánh đức thần công ở Huế ( cao tới 4 m rộng tới 2,55 m dầy 0,48 m ) chạm chổ rất đẹp hai mặt khắc bài " khiêm cúng ký" gồm 4935 chữ 9 cũng là bài văn bia nhiều chữ nhất trong số các bia cùng loại hai bên bi đình là hai cột trụ hoa biến rất cao tiếp đó là hồ bán nguyệt và cuối cùng là hồ b­a thành nơi đặt mộ nhà vua các kiến trúc của khu phần mộ được bố trí trên sườn đồi thoai thoải càng lùi dần vào sau càng lên cao dần cả khu rừng đều rợp bóng thông.

Khiêm lăng thực sự là một công viên – hoàng cung được trang điểm một cách tài tình bằng nhiều hồ sen, vườn hoa cây cảnh cầu quán, đình tạo nên cây cảnh sắc thơ mộng thanh thoát, phản ánh được phần nào bản chất nhu nhược đa sầu đa cảm của ông vua thi sĩ đúng và giai đoạn đất nước lâm nguy ngai vàng nghiêng ngả (1848-1883.)

Phu Văn Lâu

Tòa lầu hai tầng ở phía trước kinh thành Huế, được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, nơi niêm yết các chiếu th­ư chỉ dụ cửa nhà vua treo bảng vàng ghi tên các tiến sĩ, phó bảng trong các kỳ thi Đình và cung là nơi tổ chức các cuộc vui mừng thọ nhà vua.

Lầu dựng trên nền cao hình vuông, mỗi bề khoảng trên 12m, lát đá cẩm thạch. Xung quanh nền có lan can, bậc cấp và sân lát gạch. Mười sáu cột lim tròn loại lớn 4 cột cái cao tới 8m; 12 cột con cao khoảng 3m) sơn son đặt trên đá tảng dưới vuông, trên tròn nâng đỡ hai tầng mái lợp ngói tráng men (ngói hoàng l­ưu ly): Tầng dưới để trống; tầng trên cả bốn mặt đều dựng đố bản, có cửa sổ tròn ở hai mặt trước sau và của sổ vuông ở hai mặt tả hữu, phía ngoài có lan can con tiện vây quanh.

Nóc lầu đắp đôi rồng chầu mặt trời, góc mái đắp hình con giao. Bờ nóc, bờ quyết đều chia thành ô hộc có trang trí các hình hoa lá bằng mảnh sứ nhiều màu.

Dưới mái lầu có treo biển đề ba chữ lớn "Phu Văn Lâu". Hai bên mặt tiền có dựng hai tấm bia đá, khắc mấy chữ "Khuynh cái hạ mã", nhắc nhở mọi người qua đây phải "nghiêng lọng, xuống ngựa" để tỏ lòng tôn kính. Sân trước còn có đặt hai khẩu thần công loại nhỏ đúc bằng đồng.

Sau 170 năm kể từ ngày được xây dựng (tháng 7 năm 1819) Phu Văn Lâu đã trải qua nhiều lần sửa sang tu bổ, nhiều vật liệu xây dựng đã bị thay thế, một số bộ phận kiến trúc, bài trí đã bị mất hoặc đổi dời vị trí nhưng Phu Văn Lâu vẫn tồn tại trong vẻ đẹp tổng quát thanh nhã cân xứng hài hòa cố hữu của nó, bên Ngọ Môn đồ sộ và Kỳ Đài hùng vĩ, như­ câu ca dao xưa đã mô tả: "Ngọ Môn năm cửa chín lầu. Cột cờ ba cấp. Phu Vãn Lâu hai tầng".

Sân Đại Triều Nghi và Điện Thái Hoà

Phía sau Ngọ môn qua cầu trung đạo ngang Hồ Thái Dịch với hai bà môn thanh mảnh cột đồng rồng quấn, biển gạch lam mầu sắc rực rỡ ở hai đầu cầu, du khách đứng trước sân rộng, chia làm 3 cấp đó là sân Đại Triều Nghi (còn gọi là sân rồng) nơi trăm quan văn võ và đại biểu " trăm họ" chầu vua bên sân có những tấm bia đá ghi rõ vị trí của các quan chức theo phẩm trật. Khu vực thấp nhất, gọi là đệ tam bái đình (sân chầu thứ ba) dành cho các Hương hào kỳ lão và họ ngoại của nhà vua (được vào chầu nhân những dịp đặc biệt nào đó, như­ là lễ mừng thọ nhà vua chẳng hạn. phía trên đệ nhị bái đình, cao hơn một cấp dành cho các Quan từ cửu phẩm đến tứ phẩm; đệ nhất bái đình cao nhất.

Sát thềm điện Thái Hòa, dành cho các quan từ tam phẩm đến nhất phẩm, Điện làm theo kiểu trùng thiềm Diệp ốc (nhà kép ghép dọc), dựng trên nền hình chữ nhật, cao hơn "Đệ nhất bái đình" khoảng một mét, và cao hơn mặt đất phía ngoài sân tới gần hai mét rưỡi. Tiền điện (hoặc tiền tích, tiền doanh, tiền đường) nằm ở phía trước cao hơn 10m, gồm 7 gian chính, 2 chái ở hai đầu có tường bao trổ cửa sổ tròn; chính diện nằm sát phía sau tiền điện, cao hơn tiền điện khoảng 2m, Mái điện trước đây lợp ngói ống men vàng. Bờ mái, bờ nóc trang trí hình rồng; phần cổ điện đắp ô hộc gắn hình trang trí và những bức tiểu hoa, tiểu thị tráng men pháp lam. Chính giữa nóc tiền điện có gắn bầu r­ượu bằng pháp lam. Bên trong tiền điện không làm trần. Nơi mái tiền điện và chính điện tiếp giáp nhau có đặt máng xối, bên dưới là trần thừa l­u (vỏ cua) trang trí thanh nhã. nối liền với trần của chính điện. Trần của chính điện có chia thành nhiều ngăn, treo đèn lồng gian giữa, phía trong cùng của chính điện có kê bục cao ba tầng trên đặt ngai vàng, phía sau ngai vàng bức trướng lớn thêu rồng phía trước ngai đặt bàn nhỏ khảm xà cừ đỉnh đồng. Bao quanh gian giữa ở phía trên là những lớp y môn lộng lẫy trạm trổ tỉ mỉ, phối hợp hài hòa với những hàng cột trang trí bằng mây, rực rỡ vàng son. Liên kết các hàng cột có bầy nhiều độc bình, ché, chậu cảnh đều là đồ sứ cổ quý giá.

Điên Thái Hòa là nơi thiết đại triều (vào ngày mồng một và ngày rằm hàng tháng) và tổ chức các cuộc đại lễ (lễ lên ngôi, lễ mừng thọ, lễ tuyên thệ gọi tên các vị tân khoa trong các cuộc thi đình v,v…)

Ngọ Môn

Cổng chính của hoàng thành mở về phía nam, nhìn thẳng ra kỳ đài ở mặt tiền phòng thành một công trình độc đáo có kết cấu hai phần: đế và lầu.

Phần đế là khối kiến trúc hình chữ U xây bằng đá và gạch vồ, cạnh đáy đo được gần 56m, cao khoảng trên 5m , hai chữ U nhô ra phía trước dài tới 27m, giữa cạnh đáy tạo 3 cổng lớn, hình chữ nhật đứng cửa giữa là lối ra vào của nhà Vua rộng hơn 3m cao hơn 4m hai bên là là giáp môn và hữu giáo môn phía trên cử giữa có hai phía ngọ môn bọc vàng khá lớn lớp vàng đã bị bóc mất từ lâu. Xuyên suốt hai hàng chữ U là hai lối đi dài tới 25m uốn gấp th­ước thợ trổ thành hai vòm cửa, ở hai mé bên đầu càng đối diện nhau đó là tả dịch môn và hữu dịch môn mặt tiền của hai đầu càng hình chữ U đều chổ.

Mặt trên của phần đất lát gạch bát tràng xung quanh chạy lan can xếp gạch hao đúc rỗng tráng men với nhiều kiểu trang trí khác nhau trên mặt lầu này là lầu ngũ phụng hai tầng hai lớp mái, gồm một dẫy nằm ngang ở giữa 9 trên cạnh đáy hình chữ U của của phần đè ) và hai dẫy lầu nằm dọc ( trên hai càng hình chữ U của phần đế ) 100 cột lim sơn son trong đó có 48 cột xuyên suốt cả hai tầng lầu đỡ hệ thống mái tạo thành 9 nóc lầu lợp ngói tráng men ( hoành l­ưu ly ngói men vàng ở giữa thành l­ưu ly , ngói men xanh mục ở hai bên ) mái lầu trang trí hồi long, lá lật nơi ngậm kim tiền, cúc trúc lan mai bằng mảnh sứ ghép gắn trong các ô hộc.

Thế miếu

Là nơi thờ phụng các vua và hoàng hậu nhà Nguyễn, xây dựng năm 1821 dưới triều Minh Mạng, là một khối nhà ghép kiểu "trùng thiềm điệp ốc" đồ sộ, bề thế, dài tới trên năm chục mét, chiều sâu lòng nhà gần ba chục mét, dựng trên nền cao gần một mét bó đá xanh mái lợp ngói lưu ly men vàng, trang trí hồi long, bầu rượu pháp lam ngũ sắc; phần cổ diên giữa hai tầng mái khá rộng, chia thành nhiều ô hộc, gắn các bức tiểu họa và tiểu thi nhiều màu. Bộ khung nhà bằng gỗ lim được sơn thiếp vàng son rực rỡ, trần thừa l­u trạm trổ chau chuốt: trần chính doanh sơn vàng, nội thất có nhiều mầu hình trang trí cổ điển, chạm trổ khá tinh xảo; nhiều tiểu họa tiểu thi khá tinh tế gắn trong lòng các ô hộc làm tăng thêm vẻ đẹp của các bộ phận kết cấu gỗ. Thế Miếu khi mới xây xong chỉ thờ Gia Long. Cho tới nay. trong miếu thờ 10 vua: Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) , Kiên Phúc (1883-1884), Hàm Nghi (1884- 1885), Đồng Khánh (1886-1888), Thành Thái (1889 – 1907), Duy Tân (1907 – 1916), Khải Định (1910-1 925).

Ba vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vì chống Pháp nên mãi tới giữa thế kỷ này mới được đư­a vào Thị Miếu. Ở mỗi gian, phía ngoài, phần tiền doanh, bày án thờ sơn son phía trong, sau bức mành vẽ rồng mây ngũ sắc từ trần thừa l­ưu buông rủ xuống, thuộc phần chính doanh, đặt sập thờ và bàn thờ bày các đồ tế khí, tiếp đó ở trong cùng là khám thờ lớn bày bài vị vua và hoàng hậu. (Gia Long và hai hoàng hậu Thừa Thiên và Thuận Thiên thờ ở gian giữa; Minh Mạng và hoàng hậu thờ ở gian thứ hai bên trái; Thiệu Trị và hoàng hậu thờ ở gian thứ hai bên phải; Tự Đức và hoàng hậu thờ ở gian thứ ba bên trái v.v…).

Trước Thế Miếu là sân tế rất rộng: giữa là sân chính, hai bên có sân phụ, Từ thềm xuống sân có ba khối bậc cấp có bốn con rồng đá làm thành bậc. Khối bậc cấp ở giữa rộng nhất, có bốn con rồng đá làm thành bậc. chia bậc cấp làm ba lối lên xuống Trên sân còn bày chậu cảnh đặt trên đôn đá, chạm khắc công phu. Quanh sân có trồng nhiều cây. Có cây tùng, dáng đẹp,gọi là tùng Thề Miếu, t­ương truyền được trồng cách đây 150 năm.

Đặc biệt trước Thế Miếu có bầy chín đỉnh đồng cực lớn (cửu đỉnh), mỗi đỉnh có một tên riêng; Cao Đỉnh, Nhân đỉnh. CHương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, Huyền Đỉnh. Lớn nhất là Cao Đỉnh (nặng 2755kg; cao trên 2m; Đường kính miệng đỉnh hơn 1 m) . Trên mỗi đỉnh có 18 hình khắc chạm nổi, kèm theo chữ, miêu tả các hiện tượng thiên nhiên (như­ mặt trời, trăng, sao, cầu vồng, mây. ..) núi sông đất nước (biển Đông, sông Cửu Long, sông Thao, đèo Ngang, của ải Hải Vân. ..) chim muông, cỏ cây, hoa lá và sản vật các địa phương (hổ, rồng, trĩ, ba ba, lợn, cá rô, cà cuống, lúa, hành, tỏi, nghệ, rau tía tô, hoa dâm bụt, hoa ngọc lan, hoa tử vi, quả vải quả mít…), các vật dụng khí tài (thuyền buồm, đại bác, súng phun lửa, xe tứ mã…). tất cả gồm 162 hình lớn nhỏ, nói lên được phần nào cảnh quan hùng vĩ của núi sông và tài nguyên sản vật phong phú đa dạng của đất nước, đánh dấu trình độ kỹ thuật với nghệ th­uật khá cao của ngành đúc đồng ở nước ta hồi đầu thế kỷ 19. Cũng thuộc khu vực Thế Miếu, còn có một số công trình kiến trúc có giá trị khác nữa như­ Hiển Lâm Các, Tả Tùng Tự và Hữu Tùng Tự thờ các công trình và một hệ thống cửa tam quan (một chính, hai phụ) xây cất công phu, trông khá đồ sộ với nhiêu tầng mái giả, góc uốn cong. Nhưng dải cổ điểm đắp ô hộc gân hình rồng phượng, hoa lá long mã, bát bửu khá tinh xảo…

Hiển Lâm Các ở phía trước Thế Miếu.. ba tầng m­ười hai mái. Toàn bộ chiều cao đạt tới 15m, tầng dưới gồm ba gian hai chái, tầng giữa chỉ có ba gian, tầng trên cũng chỉ là một gian lầu, vì vây trông kiểu dáng lại càng có vẻ thanh thoát cao vút lên… Tầng dưới, hai chái ở hai bên đều có tường bao, có cửa sổ gắn gạch trổ hoa, ba gian giữa để trống. Ở gian chính giữa có bốn cây cột cái, cao tới trên 12m, xuyên suốt 3 tầng đỡ bộ khung mái của tầng lầu trên cùng; xung quanh là bốn cột nhỡ, cao khoảng 8m, đỡ kết cấu rầm xà, con sơn nâng bộ mái của tầng giữa; m­ười sáu cột quan cao khoảng 3m đỡ các tầng mái của tầng dưới cùng những hàng lan can con tiện trau chuốt được lắp đặt khéo léo vây quanh những vách gỗ của lá sách hoặc các khoảng trống của các gian ở cả ba tầng. Từ tầng dưới lên tầng giữa và tầng trên cùng đều có cầu thang gỗ, thành bậc tay vịn chạm trổ khá tỉ mỉ.

Mái Hiển Lâm Các lợp ngói ống tráng men vàng, đầu bờ nóc, các góc mái đắp hình con giao. Giữ­a bờ nóc mái lầu trên cùng gắn một bầu rượu.

Mặt trước và mặt sau Hiển Lâm Các nối thềm cao với sân, có chín bậc cấp rộng với bốn con rồng đá chia thành ba lối lên xuống.

Hiền Lâm Các là một công trình kiến trúc khá độc đáo cao nhất trong số các kiến trúc trong Hoàng thành, cùng với các cửa Tam quan đã góp phần làm tăng thêm vẻ trang trọng tôn nghiêm của nơi thờ phụng.

Lăng Khải Định

Đây là Lăng cuối cùng của dòng vua nhà Nguyễn. Được khởi xây từ năm 1920, đến năm 1931 mới hoàn chỉnh. Lăng Khải Định cách cố Đô Huế 10km, nằm trên núi Châu Ê, gọn trong 1 khuôn viên hình chữ nhật dài 117m, rộng 49m. Vật liêu chính để xây lăng là sắt thép và bê tông. Nhìn xa, Lăng trông giống nh­ư một lâu đài Châu Âu hơn là một kiến trúc công trình Châu á trong khuôn viên của Lăng có rất ít cây cối nhưng đứng từ trên sân khấu trước nhà bia hay đừng từ trên Điện Khải Thành nhìn ra, phong cảnh xa xa xung quanh Lăng cũng không kém phần hùng vĩ; trước mặt Lăng có khe Châu Ê chảy vòng từ trái sang phải, ở phía chân trời có núi Chóp Vung và núi Kim Sơn chầu vào trước lăng trong vị thế "tả long hữu hổ". Rừng thông trước mặt lăng ngày x­ưa mọc xum xuê, vừa qua bị chiến tranh và thời gian tàn phá, nay bắt đầu mọc lại lác đác.

Điện Khải Thành và cung Thiên Định cùng với cửa tam quan sân chầu, nhà bia, trụ biểu, nhà phụng trực, nhà quan cư­ đều là những công trình kiến trúc nửa Âu nửa Á. Trên đỉnh cung Thiên Định có gắn cột thu lôi, bên trong cung có tượng của Khải Định bằng đồng mạ vàng. Trong lăng có bắc một hệ thống đèn điện, các tầng sân đều lát gạch hoa. Ảnh hưởng kiến trúc Châu Âu ở đây thật rõ nét.

Cái làm nên giá trị của Lăng Khải Định không phải ở nghệ thuật trang trí nội thất. Điện Khải Thành và cung Thiên Định được điểm tô lộng lẫy và hài hòa bằng những công trình mỹ thuật kết hợp chặt chẽ trang trí với điêu khắc và hội họa. Đó là những tác phẩm khảm mảnh sành sứ và mảnh chai nhiều màu sắc thể hiện nhiều đề tài truyền thống như­ các kiểu hoa văn, chữ triện, các loài cây cỏ, hoa lá chim thú…Những tác phẩm khảm sành sứ này là những bức phù điêu rất tinh xảo, màu sắc tươi tắn, trang nhã, hài hòa và sinh động gợi cho người xem nhiều hứng thú thẩm mỹ: Nghệ thuật trang trí nội thất của Lăng Khải Định đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của nghệ thuật trang trí Việt Nam trong việc kết hợp kỹ thuật ghép ảnh với kỹ thuật khắc chạm nổi và sử dụng chất liệu độc đáo là mảnh sành, mảnh sứ, mảnh chai nhiều để thể hiện các đề tài trang trí truyền thống một cách thoải mái, tự nhiên đầy chất thơ. Đây là bằng chứng về thiên tài của những nghệ nhân trang trí nội thất truyền thống ở Huế đầu thế kỷ XX.

Thuyết minh về quần thể di tích cố đô Huế – Bài số 4

Chứa đựng trong mình cả một giai đoạn lịch sử thông qua các di tích, nét trầm mặc cổ kính, điệu hát cung đình Huế âm trầm cùng với sông Hương, núi Ngự… tất cả đã tạo nên một Huế mộng mơ rất đặc trưng và luôn là điểm đến thú vị đối với mọi du khách. 

Kinh thành Huế

Cố đô Huế mang trong mình vẻ đẹp thanh bình, yên tĩnh nhưng cũng không kém phần nhộn nhịp, đông đúc. Khắp thành phố vẫn lưu giữ được những lăng tẩm, đền đài và nhiều nhà vườn có tuổi đời vài trăm năm tuổi.

Kiệt tác quần thể di tích

Nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài lăng miếu lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên thợ trời khéo tạc… Quần thể di tích này (bao gồm Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành) tiêu biểu cho những thành tựu về kiến trúc, điêu khắc, thẩm mỹ và sức lao động sáng tạo của con người Việt Nam trong suốt một thời gian dài.

Kinh thành Huế được khởi công xây dựng vào đời vua Gia Long và hoàn thành dưới triều vua Minh Mạng, bao gồm các di tích: Kỳ đài; Quốc Tử Giám; điện Long An; Bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế; đình Phú Xuân; hồ Tịnh Tâm; Tàng thư lâu; Viện Cơ mật – Tam tòa; đàn Xã Tắc; Cửu vị thần công… là nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm, hiện nay là một trong số các di tích thuộc quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Hoàng thành bao gồm các di tích Ngọ môn; điện Thái Hòa và sân Đại Triều Nghi; Triệu Tổ miếu; Hưng Tổ miếu; Thế Tổ miếu; Thái Tổ miếu; cung Diên Thọ; cung Trường Sanh; Hiển Lâm các; Cửu đỉnh; điện Phụng Tiên – là khu vực hành chánh tối cao của triều đình Nguyễn nằm bên trong kinh thành và được giới hạn bởi các vòng tường thành bên ngoài. Hoàng thành có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm thành – nơi dành riêng cho vua và hoàng gia.

Sông Hương, núi Ngự thơ mộng

Từ xưa đến nay, núi Ngự và sông Hương luôn là hai thắng cảnh được xếp vào hàng “top” của xứ Huế. Với vẻ đẹp do tạo hóa ban tặng cùng với sự gắn kết không rời, núi Ngự và sông Hương đã dần đi vào đời sống văn hóa của cộng đồng người dân địa phương.

Núi Ngự Bình nằm cách bờ nam sông Hương khoảng 3km thuộc phường An Cựu của thành phố Huế. Đây là một hòn núi tự nhiên có hình thù độc đáo: hai cánh hai bên đông tây đối xứng với nhau một cách đều đặn như do bàn tay con người đắp nên và tạo dáng; hai triền núi ở hai bên lại hơi chìa ra phía trước trông giống như hai cánh tay đang dang ra phía trước để chào đón một ai đó.

Từ trên không trung nhìn xuống, người ta thấy hòn núi có dạng hình cánh cung với phần lưng uốn nhẹ về phía nam. Dọc từ chân núi lên đến đỉnh là hàng thông reo vi vu suốt cả 4 mùa. Đặc biệt vào mùa thu, trong tiết trời dễ chịu, không khí trong lành, mọi người thường lên đây để ngắm toàn cảnh thành phố Huế và tận hưởng nhiều điều thú vị từ thiên nhiên.

Cùng với núi Ngự, sông Hương cũng đã đi vào thơ ca của biết bao người. Có người từng ví vẻ đẹp của sông Hương như sông Seine của nước Pháp. Đối với nhiều người, phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là bởi dòng Hương giang… Nước trong vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng như cái đẹp của xứ Huế giảm mất nửa phần. Về đêm, dòng sông Hương trở nên huyền hoặc hơn, ánh đèn điện hắt xuống dòng sông làm cho mặt nước như được tráng một lớp bạc lung linh.

Khám phá cồn Hến

Cồn Hến là một hòn đảo nhỏ trên sông Hương (đoạn chảy qua thành phố Huế) được hình thành bởi sự bồi đắp của đất và phù sa.

Sử sách xưa không ghi chép cồn Hến xuất hiện trên sông Hương từ bao giờ nhưng theo một số tài liệu, ban đầu cồn Hến có tên là “xứ cồn cạn” do hai khe nước ở giữa cồn bị bồi lấp cạn dần, rất nhiều loài cá tôm đến đây sinh sống. Đêm đến nhiều người tới đây đánh bắt và đốt đèn đuốc soi sáng cả một vùng nên cồn được gọi là cồn Soi.

Cũng bởi sự hình thành cồn do bồi lấp mà về sau, dân cư ngụ ở đây đã lập nên làng có tên là Bồi Thành. Vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725-1738) xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân, ông Huỳnh Tương (người xã Diên Đại, Phú Vang, Thừa Thiên) được coi là người đầu tiên đến dựng chòi định cư và làm nghề cào hến. Từ đó người ta gọi là “cồn Hến”.

Cồn Hến nổi tiếng ngay trong chính cái tên của nó: “Cồn của loài hến”. Được bao bọc bởi sông Hương, nơi đây bốn mùa cây cối xanh tốt, khí hậu ẩm mát và một điều đặc biệt dù bị khai thác rất nhiều nhưng khu vực xung quanh không bao giờ hết hến. Hến sông Hương có rất nhiều loài, nhưng loại ở cồn Hến rất đặc biệt.

Thân nhỏ, kích cỡ chỉ bằng viên bi, có mùi thơm dễ chịu, ruột hến ăn rất dẻo, hương vị đậm đà. Hến có thể chế biến thành các món: cơm hến, bún hến, hến xào… Xứ Huế có nhiều món chế biến từ hến, nhưng hến ở cồn Hến mới thực sự là đặc sản và kích thích sự tò mò của nhiều người.

Ngoài đặc sản hến, người dân cồn Hến còn trồng được loại bắp (ngô) rất kỳ lạ ở cuối cồn. Loại ngô này bắp rất to, các hạt đều tăm tắp, màu trắng, dẻo mềm và có vị thơm đặc biệt. Cứ dịp lễ, tết người dân cồn Hến thường dâng lên vua chúa hai đặc sản hến và bắp. Đây được coi là hai món sơn hào hải vị cũng chính là 2 món ăn mà đôi vợ chồng năm xưa khi đến khai hoang ở vùng đất này đã làm ra.

Mênh mông phá Tam Giang

Nằm sát bên quốc lộ 1A, trải dài trên địa phận 3 huyện Quảng Điền, Phong Điền và Hương Trà, phá Tam Giang trở thành điểm đến cho những ai muốn tận hưởng sự thanh bình của miền sông nước hoang sơ.

Nhằm thu hút du khách đến với vùng đất cố đô, từ ngày 2 – 30.9, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế tổ chức chương trình kích cầu “Tháng vàng du lịch” di sản tại Huế.

Cụ thể, du khách sẽ được tham quan tất cả các điểm di tích khi mua vé tham quan Hoàng cung, lăng Khải Định, lăng Minh Mạng; miễn phí thuyết minh tại Đại nội (cho đoàn từ 30 khách trở lên); miễn vé tham quan cho các đoàn học sinh, sinh viên; miễn phí dịch vụ xe điện chuyên chở khách từ lối ra Đại nội đến Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế; giảm 50% giá vé xem biểu diễn Nhã nhạc; giảm 10% giá một số dịch vụ, hàng lưu niệm trong khu vực Đại nội…

Ngay trên mép cỏ nằm sát bờ, du khách có thể chứng kiến một phần nhịp sống sinh hoạt của người dân với hoạt động đánh bắt cá, tôm, cua… vốn là đặc sản của vùng đầm phá này. Đến với phá Tam Giang, ta nên đi vào mùa khô (khoảng tháng hai đến tháng bảy), đây là thời gian ít mưa bão, không có lũ. Vào mùa không có sóng, phá hiền hòa, thơ mộng với cảnh non xanh, nước biếc, mây trời lãng đãng. Du khách có thể xuôi dòng nước trên con thuyền nhỏ để thả hồn mình vào giữa khung cảnh thiên nhiên đã từng đi vào thơ, ca, nhạc, họa.

Trên hành trình khám phá phá Tam Giang, không gì thú bằng được ghé lại quán ăn ngay đầu đò ngang, thưởng thức những đặc sản cá, mực, tôm, cua, ghẹ… tươi rói. Vừa thưởng thức hải sản vừa hưởng thụ bầu không khí trong trẻo trên những chiếc chòi lá dựng sát mép nước. Chiều đầm phá lộng gió vẫn ngày ngày thổi qua cuộc sống thanh bình của những ngư dân quanh năm chỉ biết đến thả lưới giăng câu…

Với không gian sông nước bao la và yên tĩnh, những giá trị cảnh quan về đa dạng sinh học và đời sống của người dân, vùng đầm phá Tam Giang sẽ là điểm du lịch sinh thái lý tưởng cho du khách khi tham quan vùng sông nước rộng lớn này.

“Người đẹp” Lăng Cô

Nếu ai đã một lần đến miền đất kinh đô Huế xưa, miền đất mộng mơ với tà áo dài tím, với nhịp cầu Tràng Tiền, sông Hương, bến Ngự, và với những bãi biển thoải dài mang vẻ đẹp hiền hòa thơ mộng thì không thể không ghé thăm bãi biển Lăng Cô.

Lăng Cô vốn là một làng chài thanh bình yên ả, ẩn mình dưới chân đèo bắc Hải Vân, nằm lọt giữa một nhánh rẽ của dãy Trường Sơn đâm ra biển, giữa đèo Hải Vân và Phú Gia. Lăng Cô có bãi cát thoai thoải dài tới 10km, làn nước biển trong xanh bao la, được bình chọn là 1 trong 27 vịnh biển đẹp nhất hành tinh.

Ngoài những hoạt động về du lịch biển, Lăng Cô còn ẩn giấu vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã, kỳ thú trong những triền núi mờ sương: hẻm núi, suối, nguồn, hồ, đập, rừng và đá. Đây là nơi lý tưởng để cắm trại, ngắm cảnh, đi bộ trong rừng và nhiều chuyến đi phiêu lưu khác.

Nguyễn Tuyến tổng hợp

Thuyết minh về quần thể di tích cố đô Huế – Văn mẫu lớp 12
5 (100%) 480 đánh giá

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...

Có thể bạn quan tâm?